﻿﻿<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/">
	<channel>
		<title><![CDATA[Đam San.net -Diễn đàn yêu âm nhạc và nhạc cụ Việt Nam - Nhạc cụ khác]]></title>
		<link>http://damsan.net/</link>
		<description><![CDATA[Đam San.net -Diễn đàn yêu âm nhạc và nhạc cụ Việt Nam - http://damsan.net]]></description>
		<pubDate>Mon, 13 Apr 2026 07:23:49 +0000</pubDate>
		<generator>MyBB</generator>
		<item>
			<title><![CDATA[Hỏi về sáo của người Nepal]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=5259</link>
			<pubDate>Mon, 19 Sep 2022 09:06:50 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=5259</guid>
			<description><![CDATA[Trong trang Fb của bác Đặng Hoành Loan - Nhà nghiên cứu âm nhạc có nêu 1 câu hỏi: <br />
<span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">Có m</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ộ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">t lo</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ạ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">i sáo ngang </span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ở</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"> Nepal r</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ấ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">t l</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ạ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"> v</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ề</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"> c</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ấ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">u t</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ạ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">o, các b</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ạ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">n cung c</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ấ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">p thêm thông tin v</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ề</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"> cây sáo này nhé</span></span>.<br />
Link: <a href="https://www.facebook.com/profile.php?id=100016434604994&amp;sk=about" target="_blank">https://www.facebook.com/profile.php?id=...4&amp;sk=about</a><br />
<br />
Hình ảnh cây sáo:<br />
<a href="https://drive.google.com/file/d/1b10w6l858WxNPij5g2D4OMeOaWCUh3oU/view" target="_blank">https://drive.google.com/file/d/1b10w6l8...Uh3oU/view</a><br />
Bạn nào biết thông tin về em nó, xin chia sẻ nhé. <br />
<br />
Thanks all !<br />
<hr />
<hr />]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Trong trang Fb của bác Đặng Hoành Loan - Nhà nghiên cứu âm nhạc có nêu 1 câu hỏi: <br />
<span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">Có m</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ộ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">t lo</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ạ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">i sáo ngang </span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ở</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"> Nepal r</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ấ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">t l</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ạ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"> v</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ề</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"> c</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ấ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">u t</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ạ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">o, các b</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ạ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">n cung c</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ấ</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;">p thêm thông tin v</span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"><span style="font-family: Calibri, sans-serif;">ề</span></span></span><span style="color: #050505;"><span style="font-size: medium;"> cây sáo này nhé</span></span>.<br />
Link: <a href="https://www.facebook.com/profile.php?id=100016434604994&amp;sk=about" target="_blank">https://www.facebook.com/profile.php?id=...4&amp;sk=about</a><br />
<br />
Hình ảnh cây sáo:<br />
<a href="https://drive.google.com/file/d/1b10w6l858WxNPij5g2D4OMeOaWCUh3oU/view" target="_blank">https://drive.google.com/file/d/1b10w6l8...Uh3oU/view</a><br />
Bạn nào biết thông tin về em nó, xin chia sẻ nhé. <br />
<br />
Thanks all !<br />
<hr />
<hr />]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Hỏi về nhạc cụ kèn]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=5258</link>
			<pubDate>Wed, 16 Feb 2022 14:33:11 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=5258</guid>
			<description><![CDATA[Mọi người cho mình hỏi các thông tin về nhạc cụ này với. Lần đầu mới thấy và nghe.<br />
<a href="https://youtu.be/_DSuYo6GAzs" target="_blank">https://youtu.be/_DSuYo6GAzs</a><br />
Tên gọi, hình thức cấu tạo, thang ám....v.v...<br />
Thanks mn nhiều nhé.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Mọi người cho mình hỏi các thông tin về nhạc cụ này với. Lần đầu mới thấy và nghe.<br />
<a href="https://youtu.be/_DSuYo6GAzs" target="_blank">https://youtu.be/_DSuYo6GAzs</a><br />
Tên gọi, hình thức cấu tạo, thang ám....v.v...<br />
Thanks mn nhiều nhé.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Đôi nét về Chinh, Guông trong văn hóa người Xơ Đăng]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=4159</link>
			<pubDate>Sun, 02 Aug 2015 09:44:55 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=4159</guid>
			<description><![CDATA[Người Xơ đăng (nhóm M’Nâm) yêu thích ca hát. Nhạc cụ sử dụng trong âm nhạc của họ cũng hết sức độc đáo. Chúng ta vẫn hay biết đến <a href="http://tatham.vn/cong-chieng-c172.html" target="_blank">cồng chiêng</a> thì người Xơ đăng gọi chiêng bằng là chinh, chiêng núm là guông.<br />
<br />
[center]<img src="http://tatham.vn/media/news/0303_xng3.jpg" border="0" alt="[Hình: 0303_xng3.jpg]" />[/center]<br />
<br />
Người Xơ đăng gọi chiêng bằng là chinh, chiêng núm là guông. Chinh, guông là nhạc cụ tự thân vang, chi gõ, đấm. Dàn chinh gồm có 5 chiếc, đường kính chiếc to nhất là 42cm, thành cao 6cm và đường kính chiếc nhỏ nhất là 25cm, thành cao 4,5cm. Dàn guông gồm 4 chiếc, đường kính chiếc to nhất là 52cm, thành cao 8cm và đường kính chiếc nhỏ nhất là 23cm, thành cao 3cm. Khi trình diễn, mỗi người cầm một chiêng, tay trái xách, tay phải cầm dùi làm bằng cây sum lỗ (một loại cây thân gỗ) có chiều dài khoảng 12cm để gõ. Đánh guông thì gõ vào núm còn đánh chinh thì gõ vào mặt trong của chinh, riêng chiếc guông to nhất, nghệ nhân dùng nắm tay để đấm vào núm guông làm cho âm thanh hay hơn là dùng dùi gõ. Chinh, guông là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng và thường chỉ dùng trong những ngày lễ của cộng đồng.<br />
<br />
Nhạc cụ tương tự: <a href="http://tatham.vn/trong-dong-c159.html" target="_blank">trống đồng</a><br />
<br />
Tham khảo thêm tại đây: <a href="http://tatham.vn/nhac-cu-cua-dan-toc-xo-dang-tai-tinh-kon-tum-a92.html" target="_blank">Nhạc cụ của dân tộc Xơ Đăng</a>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Người Xơ đăng (nhóm M’Nâm) yêu thích ca hát. Nhạc cụ sử dụng trong âm nhạc của họ cũng hết sức độc đáo. Chúng ta vẫn hay biết đến <a href="http://tatham.vn/cong-chieng-c172.html" target="_blank">cồng chiêng</a> thì người Xơ đăng gọi chiêng bằng là chinh, chiêng núm là guông.<br />
<br />
[center]<img src="http://tatham.vn/media/news/0303_xng3.jpg" border="0" alt="[Hình: 0303_xng3.jpg]" />[/center]<br />
<br />
Người Xơ đăng gọi chiêng bằng là chinh, chiêng núm là guông. Chinh, guông là nhạc cụ tự thân vang, chi gõ, đấm. Dàn chinh gồm có 5 chiếc, đường kính chiếc to nhất là 42cm, thành cao 6cm và đường kính chiếc nhỏ nhất là 25cm, thành cao 4,5cm. Dàn guông gồm 4 chiếc, đường kính chiếc to nhất là 52cm, thành cao 8cm và đường kính chiếc nhỏ nhất là 23cm, thành cao 3cm. Khi trình diễn, mỗi người cầm một chiêng, tay trái xách, tay phải cầm dùi làm bằng cây sum lỗ (một loại cây thân gỗ) có chiều dài khoảng 12cm để gõ. Đánh guông thì gõ vào núm còn đánh chinh thì gõ vào mặt trong của chinh, riêng chiếc guông to nhất, nghệ nhân dùng nắm tay để đấm vào núm guông làm cho âm thanh hay hơn là dùng dùi gõ. Chinh, guông là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng và thường chỉ dùng trong những ngày lễ của cộng đồng.<br />
<br />
Nhạc cụ tương tự: <a href="http://tatham.vn/trong-dong-c159.html" target="_blank">trống đồng</a><br />
<br />
Tham khảo thêm tại đây: <a href="http://tatham.vn/nhac-cu-cua-dan-toc-xo-dang-tai-tinh-kon-tum-a92.html" target="_blank">Nhạc cụ của dân tộc Xơ Đăng</a>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tìm hiểu cấu tạo của đàn đoản, một loại nhạc cụ dân tộc Việt Nam]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=4106</link>
			<pubDate>Wed, 08 Apr 2015 08:34:18 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=4106</guid>
			<description><![CDATA[Đàn Đoản là nhạc khí dây gảy loại có dọc (cần đàn), một số các nước khác ở Châu Á cũng có, đàn Đoản được nhập vào Việt Nam và trở thành nhạc khí truyền thống của dân tộc Việt và một số dân tộc ít người ở miền Bắc Việt Nam bên cạnh cây <a href="http://tatham.vn/dan-bau-c137.html" target="_blank">đàn bầu</a>.<br />
<br />
[center]<img src="http://tatham.vn/media/news/2703_dan1.jpg" border="0" alt="[Hình: 2703_dan1.jpg]" />[/center]<br />
<br />
Đàn Đoản là nhạc khí dây gảy (cần ngắn) có 4 dây như <a href="http://tatham.vn/dan-ty-ba-c142.html" target="_blank">đàn tỳ bà</a>, gồm các bộ phận sau: thùng đàn, mặt đàn, cần đàn, dây đàn, bộ phận lên dây và phím gảy.<br />
<br />
[center]<img src="http://tatham.vn/media/news/2703_d2.jpg" border="0" alt="[Hình: 2703_d2.jpg]" />[/center]<br />
<br />
Màu âm đàn Đoản trong sang, tươi tắn. Tầm âm rộng hơn 2 quãng 8 từ Sol 1 đến Mi 3 (G1 – E3). Khoảng âm dưới: tiếng đàn ấm, vang và tình cảm.<br />
<br />
Khoảng âm giữa: tiếng đàn trong sáng.<br />
<br />
Khoảng âm cao: tiếng đàn đanh, khô, ít vang, gây căng thẳng.<br />
<br />
Theo bài viết: <a href="http://tatham.vn/dan-doan-a100.html" target="_blank">Cấu tạo và âm sắc của đàn đoản</a>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Đàn Đoản là nhạc khí dây gảy loại có dọc (cần đàn), một số các nước khác ở Châu Á cũng có, đàn Đoản được nhập vào Việt Nam và trở thành nhạc khí truyền thống của dân tộc Việt và một số dân tộc ít người ở miền Bắc Việt Nam bên cạnh cây <a href="http://tatham.vn/dan-bau-c137.html" target="_blank">đàn bầu</a>.<br />
<br />
[center]<img src="http://tatham.vn/media/news/2703_dan1.jpg" border="0" alt="[Hình: 2703_dan1.jpg]" />[/center]<br />
<br />
Đàn Đoản là nhạc khí dây gảy (cần ngắn) có 4 dây như <a href="http://tatham.vn/dan-ty-ba-c142.html" target="_blank">đàn tỳ bà</a>, gồm các bộ phận sau: thùng đàn, mặt đàn, cần đàn, dây đàn, bộ phận lên dây và phím gảy.<br />
<br />
[center]<img src="http://tatham.vn/media/news/2703_d2.jpg" border="0" alt="[Hình: 2703_d2.jpg]" />[/center]<br />
<br />
Màu âm đàn Đoản trong sang, tươi tắn. Tầm âm rộng hơn 2 quãng 8 từ Sol 1 đến Mi 3 (G1 – E3). Khoảng âm dưới: tiếng đàn ấm, vang và tình cảm.<br />
<br />
Khoảng âm giữa: tiếng đàn trong sáng.<br />
<br />
Khoảng âm cao: tiếng đàn đanh, khô, ít vang, gây căng thẳng.<br />
<br />
Theo bài viết: <a href="http://tatham.vn/dan-doan-a100.html" target="_blank">Cấu tạo và âm sắc của đàn đoản</a>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tìm hiểu về cấu tạo của các loại dây đàn guitar]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=3835</link>
			<pubDate>Tue, 19 Aug 2014 02:13:38 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=3835</guid>
			<description><![CDATA[Bên cạnh việc chế tác ra một cây đàn Guitar chất liệu tốt, mẫu mã đẹp, thì việc quan trọng nhất khi nghĩ đến vẫn là âm thanh. Ngoài chất lượng gỗ, kỹ thuật làm đàn ảnh hưởng đến âm thanh như những bài khác mà Swallow Guitars đã giới thiệu, cách chọn dây đàn guitar cũng đóng một vai trò quan trọng và thiết yếu đến chất lượng âm thanh của cây <a href="http://swallow.vn/guitar-c139.html" target="_blank">đàn guitar</a>.<br />
<br />
    Dây đàn cũng giống như các chất liệu khác, dây càng tốt thì chất lượng, âm thanh sẽ tốt hơn. Chất liệu căn bản làm dây đàn là thép, niken, đồng và nylon. Dây phải được sản xuất bằng những chất liệu phù hơp với từng loại đàn. Dây đàn guitar bao gồm 2 loại “plain” và “wound” phụ thuộc vào từng loại guitar. Mỗi loại dây lại tạo âm thanh, độ cao thấp, màu sắc khác nhau. Có nhiều loại đàn khác nhau như Bass Guitar chỉ có 4 dây, đàn 12 dây tự nhiên có 12 dây, tuy nhiên bài viết sau sẽ giúp các bạn hiểu hơn về các loại đàn guitar 6 dây phổ biến. Sáu dây guitar là E cao, B, G, D, A và E thấp sắp xếp theo thứ tự đường kính từ nhỏ đến lớn.<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://swallow.vn/media/lib/cac-loai-day-dan-guitar.jpg" border="0" alt="[Hình: cac-loai-day-dan-guitar.jpg]" /></div>
<br />
2 loại dây chính<br />
<br />
    1. Dây Plain<br />
<br />
    Dây plain là sợi đơn bằng thép cao cấp sử dụng cho Electric Guitar và <a href="http://swallow.vn/acoustic-guitar-c145.html" target="_blank">acoustic guitar</a> hoặc dây nylon sử dụng cho Classic Guitar. Chúng thường được sử dụng cho dây có tần số cao: E cao, B, và G. Dây thép cũng có thể được mạ niken giúp kéo dài tuổi thọ của dây, nhưng một số nghệ sĩ guitar không thích những âm thanh khi dây được mạ kẽm.<br />
<br />
    2. Dây Wound<br />
<br />
    Dây wound sử dụng cho ba dây tần số thấp hơn: D, A và E thấp, lõi được cuốn thêm một lớp ngoài có dạng vòng tròn, nửa tròn hoặc tròn dẹt. Do đó nó cũng có tên gọi là dây round, half-round, flat-round, và mỗi loại sẽ tạo âm thanh, giai điệu, và độ ngân khác nhau. Độ sáng của âm thanh giảm từ dây round đến flat round. Lõi dây có dạng hình tròn hoặc lục giác. Lõi lục giác sẽ có lợi thế gắn với lớp ngoài tốt hơn. Dây Wound gồm những loại sau:<br />
<br />
    Round Wound thường là loại dây phổ biến và có giá thành rẻ nhất. Loại dây này có lõi là thép hoặc niken, dạng tròn hoặc lục giác bọc bên ngoài một lớp xoắn ốc hình tròn. Lõi hex- lục giác giúp độ gắn kết giữa lõi và lớp bọc tốt hơn. Độ tròn của vỏ bọc cung cấp độ bám tốt hơn, nhưng lại tạo tiếng rít khi khi đánh đàn.<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://swallow.vn/media/lib/round-wound.jpg" border="0" alt="[Hình: round-wound.jpg]" /></div>
<br />
    Dây Flat wound thường được sử dụng cho <a href="http://swallow.vn/bass-guitar-c148.html" target="_blank">bass guitar</a>, và một số lại Jazz Guitar. Chúng khá giống với dây plain ở tính mềm mượt. Loại dây này sản xuất khá phức tạp, tỉ mỉ, tạo ít tiếng rít nên được nhiều người ưu thích, nên giá thành đắt nhất trong 3 loại. Tuy nhiên, loại dây này lại khá tiện lợi và ít ăn mòn lên các điểm tiếp xúc trên đàn.<br />
<br />
    Dây Half round hay cũng được gọi ground wound, semi-flat và pressure wound, có độ mềm mượt nằm giữa dây round và flat. Giá thành cũng nằm ở khoảng giữa của dây Round và Flat.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Bên cạnh việc chế tác ra một cây đàn Guitar chất liệu tốt, mẫu mã đẹp, thì việc quan trọng nhất khi nghĩ đến vẫn là âm thanh. Ngoài chất lượng gỗ, kỹ thuật làm đàn ảnh hưởng đến âm thanh như những bài khác mà Swallow Guitars đã giới thiệu, cách chọn dây đàn guitar cũng đóng một vai trò quan trọng và thiết yếu đến chất lượng âm thanh của cây <a href="http://swallow.vn/guitar-c139.html" target="_blank">đàn guitar</a>.<br />
<br />
    Dây đàn cũng giống như các chất liệu khác, dây càng tốt thì chất lượng, âm thanh sẽ tốt hơn. Chất liệu căn bản làm dây đàn là thép, niken, đồng và nylon. Dây phải được sản xuất bằng những chất liệu phù hơp với từng loại đàn. Dây đàn guitar bao gồm 2 loại “plain” và “wound” phụ thuộc vào từng loại guitar. Mỗi loại dây lại tạo âm thanh, độ cao thấp, màu sắc khác nhau. Có nhiều loại đàn khác nhau như Bass Guitar chỉ có 4 dây, đàn 12 dây tự nhiên có 12 dây, tuy nhiên bài viết sau sẽ giúp các bạn hiểu hơn về các loại đàn guitar 6 dây phổ biến. Sáu dây guitar là E cao, B, G, D, A và E thấp sắp xếp theo thứ tự đường kính từ nhỏ đến lớn.<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://swallow.vn/media/lib/cac-loai-day-dan-guitar.jpg" border="0" alt="[Hình: cac-loai-day-dan-guitar.jpg]" /></div>
<br />
2 loại dây chính<br />
<br />
    1. Dây Plain<br />
<br />
    Dây plain là sợi đơn bằng thép cao cấp sử dụng cho Electric Guitar và <a href="http://swallow.vn/acoustic-guitar-c145.html" target="_blank">acoustic guitar</a> hoặc dây nylon sử dụng cho Classic Guitar. Chúng thường được sử dụng cho dây có tần số cao: E cao, B, và G. Dây thép cũng có thể được mạ niken giúp kéo dài tuổi thọ của dây, nhưng một số nghệ sĩ guitar không thích những âm thanh khi dây được mạ kẽm.<br />
<br />
    2. Dây Wound<br />
<br />
    Dây wound sử dụng cho ba dây tần số thấp hơn: D, A và E thấp, lõi được cuốn thêm một lớp ngoài có dạng vòng tròn, nửa tròn hoặc tròn dẹt. Do đó nó cũng có tên gọi là dây round, half-round, flat-round, và mỗi loại sẽ tạo âm thanh, giai điệu, và độ ngân khác nhau. Độ sáng của âm thanh giảm từ dây round đến flat round. Lõi dây có dạng hình tròn hoặc lục giác. Lõi lục giác sẽ có lợi thế gắn với lớp ngoài tốt hơn. Dây Wound gồm những loại sau:<br />
<br />
    Round Wound thường là loại dây phổ biến và có giá thành rẻ nhất. Loại dây này có lõi là thép hoặc niken, dạng tròn hoặc lục giác bọc bên ngoài một lớp xoắn ốc hình tròn. Lõi hex- lục giác giúp độ gắn kết giữa lõi và lớp bọc tốt hơn. Độ tròn của vỏ bọc cung cấp độ bám tốt hơn, nhưng lại tạo tiếng rít khi khi đánh đàn.<br />
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://swallow.vn/media/lib/round-wound.jpg" border="0" alt="[Hình: round-wound.jpg]" /></div>
<br />
    Dây Flat wound thường được sử dụng cho <a href="http://swallow.vn/bass-guitar-c148.html" target="_blank">bass guitar</a>, và một số lại Jazz Guitar. Chúng khá giống với dây plain ở tính mềm mượt. Loại dây này sản xuất khá phức tạp, tỉ mỉ, tạo ít tiếng rít nên được nhiều người ưu thích, nên giá thành đắt nhất trong 3 loại. Tuy nhiên, loại dây này lại khá tiện lợi và ít ăn mòn lên các điểm tiếp xúc trên đàn.<br />
<br />
    Dây Half round hay cũng được gọi ground wound, semi-flat và pressure wound, có độ mềm mượt nằm giữa dây round và flat. Giá thành cũng nằm ở khoảng giữa của dây Round và Flat.]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Hỏi về sáo Recorder]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=3753</link>
			<pubDate>Fri, 11 Jul 2014 15:04:02 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=3753</guid>
			<description><![CDATA[Mình mới tìm hiểu về recorder, muốn tập thử một lần. Cho mình hỏi hiện tại sáo recorder giá khoảng bao nhiêu, có thể mua ở đâu? <br />
]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Mình mới tìm hiểu về recorder, muốn tập thử một lần. Cho mình hỏi hiện tại sáo recorder giá khoảng bao nhiêu, có thể mua ở đâu? <br />
]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[[tp.HCM] Học guitar classic ở đâu chất lượng?]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=3698</link>
			<pubDate>Sun, 11 May 2014 19:07:26 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=3698</guid>
			<description><![CDATA[Chào mọi người, cho mình hỏi ở Sài Gòn có ai biết trung tâm nào dạy guitar cổ điển chất lượng 1 chút ko, tại dạo này đang rảnh lại có hứng học guitar lại, hồi xưa có học nhưng là học đệm hát nên giờ chuyển qua classic chắc là ko khó lắm. Ai học chỗ nào rồi thì cho mình biết ý kiến với nhé]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Chào mọi người, cho mình hỏi ở Sài Gòn có ai biết trung tâm nào dạy guitar cổ điển chất lượng 1 chút ko, tại dạo này đang rảnh lại có hứng học guitar lại, hồi xưa có học nhưng là học đệm hát nên giờ chuyển qua classic chắc là ko khó lắm. Ai học chỗ nào rồi thì cho mình biết ý kiến với nhé]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Học trống Tabla và Sagats Ả Rập trong Belly dance]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=3661</link>
			<pubDate>Tue, 08 Apr 2014 04:25:17 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=3661</guid>
			<description><![CDATA[Chào các anh/chị tham gia diễn đàn<br />
Mình là Ngân, chủ nhiệm của SaigonBellydance (<a href="http://www.facebook.com/MuabungSaigon" target="_blank">http://www.facebook.com/MuabungSaigon</a>) . Mình là một vũ công với niềm đam mê với múa Bellydance đến từ Trung Đông.<br />
Được múa cùng với live band là niềm mơ ước của nhiều vũ công belly dance. Múa với nhạc live khiến người ta nghe rõ từng beat nhạc mộc mạc hồn hậu và điều đặc biệt là người chơi nhạc và người nghệ sĩ múa có thể tung hứng cảm xúc với nhau. Múa với nhạc live giúp cảm nhận được cái thở hổn hển và dường như cả cái sức nóng ấm nồng trên bàn tay của người đánh trống.<br />
Bởi vậy nên từ 5 năm qua, Ngân đã cất công đi tìm một người biết đánh trống tabla để cùng hòa cùng không khí huyễn hoặc của Múa Trung Đông mà chưa có. Nay, cơ hội trời cho khi một người bạn của Ngân tới từ Mỹ - Anh Amit đồng ý tới Việt Nam để dạy cho các bạn kĩ thuật đánh trông Tabla. Dĩ nhiên Ngân ko thể đánh được trống vì tay Ngân yếu, mà lại là dancer thì Ngân bận múa chứ làm sao mà đánh trống cùng lúc được. Vậy nên Ngân mở workshop này để chia sẻ cùng mọi người, hi vọng có ai trong số các bạn đến học sẽ bén duyên cùng Tabla. <br />
Amit là một drummer  chuyên nghiệp với hơn 1000 màn trình diễn tại nhiều nước trên thế giới như Singapore, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Insarel cùng nhiều work shop tại Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia,… Anh rất giản dị và nhiệt tình.<br />
Để tăng thêm nguồn cảm hứng, mời các anh/chị cùng xem qua màn trình diễn của Mr. Amit cùng Belly dancer Minh Nguyên của SaigonBellydance tại KS Equatorial quận 5 nhé<br />
<a href="https://www.youtube.com/watch?v=FTb238B7bN0" target="_blank">https://www.youtube.com/watch?v=FTb238B7bN0</a><br />
Thông tin WorkShop:<br />
Mr Amit sẽ giảng dạy hai workshop vào ngày 12 và 13/4:<br />
+ Workshop 1: Hướng dẫn chơi trống Tabla <br />
Sau khóa học, học viên có thể tự chơi được một đoạn tabla ngắn với khoảng 3 rythms căn bản. Đặc biệt trong khóa học, học viên sẽ có cơ hội nhảy thử trên nền live tabla. <br />
Thời gian: Từ 12.30 tới 14.30 ngày 12 tháng 4<br />
+ Workshop 2: Sagats<br />
Thời gian từ 12h30 tới 14h30 ngày 13/4<br />
Học phí: 100.000/workshop đóng trước 10/4. Từ 11/4 trở đi học phí 150.000/workshop. Các bạn đóng học phí đóng tại quầy lễ tân hoặc chuyển khoản vào tài khoản:<br />
+ Vietcombank Kỳ Đồng: 0721000519330 . Chủ TK Trần Thị Kim Ngân<br />
+ Techcombank Bùi Thị Xuân. 14020116385019. Chủ TK Trần Thị Kim Ngân.<br />
(Phí CK người gửi chịu)<br />
Địa điểm học: SaigonBellydance số 96 Đường số 2 Cư xá Đô thành Phường 4 Quận 3<br />
<a href="http://www.saigonbellydance.com" target="_blank">http://www.saigonbellydance.com</a><br />
Hotline: 38.329.429<br />
Lưu ý: Học phí gọi là lấy tượng trưng để biếu thầy đi taxi thôi chứ tiền công thật sự của thầy không hề rẻ. Mong mọi người góp gạo bồi dưỡng thầy. Ai hoàn cảnh khó khăn quá không đóng được thì pm cho Ngân một tiếng (0982.62.62.62) Ngân sẽ nói giúp với thầy để bớt học phí cho các bạn<br />
Ah, nếu sau này các bạn đánh thành tài, Ngân có thể cho mượn trống và thu xếp các show diễn để các bạn đi diễn, vừa vui thích, vừa có thêm thu nhập<br />
Thân,<br />
<br />
 <br />
<br />
]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Chào các anh/chị tham gia diễn đàn<br />
Mình là Ngân, chủ nhiệm của SaigonBellydance (<a href="http://www.facebook.com/MuabungSaigon" target="_blank">http://www.facebook.com/MuabungSaigon</a>) . Mình là một vũ công với niềm đam mê với múa Bellydance đến từ Trung Đông.<br />
Được múa cùng với live band là niềm mơ ước của nhiều vũ công belly dance. Múa với nhạc live khiến người ta nghe rõ từng beat nhạc mộc mạc hồn hậu và điều đặc biệt là người chơi nhạc và người nghệ sĩ múa có thể tung hứng cảm xúc với nhau. Múa với nhạc live giúp cảm nhận được cái thở hổn hển và dường như cả cái sức nóng ấm nồng trên bàn tay của người đánh trống.<br />
Bởi vậy nên từ 5 năm qua, Ngân đã cất công đi tìm một người biết đánh trống tabla để cùng hòa cùng không khí huyễn hoặc của Múa Trung Đông mà chưa có. Nay, cơ hội trời cho khi một người bạn của Ngân tới từ Mỹ - Anh Amit đồng ý tới Việt Nam để dạy cho các bạn kĩ thuật đánh trông Tabla. Dĩ nhiên Ngân ko thể đánh được trống vì tay Ngân yếu, mà lại là dancer thì Ngân bận múa chứ làm sao mà đánh trống cùng lúc được. Vậy nên Ngân mở workshop này để chia sẻ cùng mọi người, hi vọng có ai trong số các bạn đến học sẽ bén duyên cùng Tabla. <br />
Amit là một drummer  chuyên nghiệp với hơn 1000 màn trình diễn tại nhiều nước trên thế giới như Singapore, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Insarel cùng nhiều work shop tại Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia,… Anh rất giản dị và nhiệt tình.<br />
Để tăng thêm nguồn cảm hứng, mời các anh/chị cùng xem qua màn trình diễn của Mr. Amit cùng Belly dancer Minh Nguyên của SaigonBellydance tại KS Equatorial quận 5 nhé<br />
<a href="https://www.youtube.com/watch?v=FTb238B7bN0" target="_blank">https://www.youtube.com/watch?v=FTb238B7bN0</a><br />
Thông tin WorkShop:<br />
Mr Amit sẽ giảng dạy hai workshop vào ngày 12 và 13/4:<br />
+ Workshop 1: Hướng dẫn chơi trống Tabla <br />
Sau khóa học, học viên có thể tự chơi được một đoạn tabla ngắn với khoảng 3 rythms căn bản. Đặc biệt trong khóa học, học viên sẽ có cơ hội nhảy thử trên nền live tabla. <br />
Thời gian: Từ 12.30 tới 14.30 ngày 12 tháng 4<br />
+ Workshop 2: Sagats<br />
Thời gian từ 12h30 tới 14h30 ngày 13/4<br />
Học phí: 100.000/workshop đóng trước 10/4. Từ 11/4 trở đi học phí 150.000/workshop. Các bạn đóng học phí đóng tại quầy lễ tân hoặc chuyển khoản vào tài khoản:<br />
+ Vietcombank Kỳ Đồng: 0721000519330 . Chủ TK Trần Thị Kim Ngân<br />
+ Techcombank Bùi Thị Xuân. 14020116385019. Chủ TK Trần Thị Kim Ngân.<br />
(Phí CK người gửi chịu)<br />
Địa điểm học: SaigonBellydance số 96 Đường số 2 Cư xá Đô thành Phường 4 Quận 3<br />
<a href="http://www.saigonbellydance.com" target="_blank">http://www.saigonbellydance.com</a><br />
Hotline: 38.329.429<br />
Lưu ý: Học phí gọi là lấy tượng trưng để biếu thầy đi taxi thôi chứ tiền công thật sự của thầy không hề rẻ. Mong mọi người góp gạo bồi dưỡng thầy. Ai hoàn cảnh khó khăn quá không đóng được thì pm cho Ngân một tiếng (0982.62.62.62) Ngân sẽ nói giúp với thầy để bớt học phí cho các bạn<br />
Ah, nếu sau này các bạn đánh thành tài, Ngân có thể cho mượn trống và thu xếp các show diễn để các bạn đi diễn, vừa vui thích, vừa có thêm thu nhập<br />
Thân,<br />
<br />
 <br />
<br />
]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Chế Saxophone bằng trúc thổi chơi :D]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=3473</link>
			<pubDate>Thu, 05 Dec 2013 14:19:36 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=3473</guid>
			<description><![CDATA[<span style="color: #FF4500;"><span style="font-size: large;"><span style="font-weight: bold;">em cũng rất khoái saxophone nhưng ko có tiền mua, hôm nay cao hứng khoét thử 1 con thổi te te được, đem lên tra tấn anh em chơi <img src="http://damsan.net/images/smilies/biggrin.gif" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /> </span></span></span><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/bRyn6wbEYds" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed -->]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<span style="color: #FF4500;"><span style="font-size: large;"><span style="font-weight: bold;">em cũng rất khoái saxophone nhưng ko có tiền mua, hôm nay cao hứng khoét thử 1 con thổi te te được, đem lên tra tấn anh em chơi <img src="http://damsan.net/images/smilies/biggrin.gif" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /> </span></span></span><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/bRyn6wbEYds" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed -->]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Cần tư vấn về sáo mèo kép (Bawu)]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=3342</link>
			<pubDate>Mon, 07 Oct 2013 15:48:32 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=3342</guid>
			<description><![CDATA[Xin chào anh/chị !<br />
Em mới tham gia 4rum nên có gì ko bít xin bỏ qua. Em mún hỏi về sáo mèo kép của TQ ( 1 phần cũng vì nó đẹp ), vì xem đc mấy clip do Tình Ngữ thổi thấy khá hay nên mún tìm hỉu và mua 1 cây về tập. Em có 1 vài câu hỏi<br />
<br />
1- Sáo mèo kép có thể chơi đc những " thể loại nhạc " nào. E thì thích nhạc Hoa, và các loại nhạc trữ tình thì có thể dùng sáo mèo kép để thổi ko? Vì sáo mèo mang âm hưởng cao nguyên nên em search cũng thấy thổi mấy bài vùng cao thôi.<br />
<br />
2- Sáo mèo kép có thể thổi đc bao nhiu note? Có thể áp dụng Cảm âm của sáo để thổi sáo mèo kép đc ko? Và nếu mún chơi đc nhìu bài nhạc thì nên mua mèo kép tone nào. Em thấy có 2 loại là = trúc tím và = gỗ ( loại 2 cây dài = nhau ), thì cái nào tốt hơn và giá thành hiện tại 1 cây mèo kép là bao nhiu? Em thì kinh tế chỉ ở hạng khá thôi, nên phải để dành.<br />
<br />
3- Cái này hơi ngoài lề 1 tý, đó là do tay em khá nhỏ ( tuổi thì ng` lớn, nhưng cơ địa thì khá giống con nít ) thì cầm mèo kép đc ko?Em chỉ lo 2 cây ghép lại chìu ngang quá rộng em ko thể cầm để bấm note đc.<br />
-------------------<br />
Em cũng định hỏi về sáo mèo đơn, nhưng tham khảo kha khá thì thấy ng` ta dùng mèo kép nhìu hơn nên quyết định hỏi về mèo kép lun. Mong mấy anh/chị đã và đang chơi sáo mèo giúp đỡ tư vấn dùm, để em có thể mua đc 1 cây sáo mèo tốt. <br />
Chân thành cám ơn ạh!]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Xin chào anh/chị !<br />
Em mới tham gia 4rum nên có gì ko bít xin bỏ qua. Em mún hỏi về sáo mèo kép của TQ ( 1 phần cũng vì nó đẹp ), vì xem đc mấy clip do Tình Ngữ thổi thấy khá hay nên mún tìm hỉu và mua 1 cây về tập. Em có 1 vài câu hỏi<br />
<br />
1- Sáo mèo kép có thể chơi đc những " thể loại nhạc " nào. E thì thích nhạc Hoa, và các loại nhạc trữ tình thì có thể dùng sáo mèo kép để thổi ko? Vì sáo mèo mang âm hưởng cao nguyên nên em search cũng thấy thổi mấy bài vùng cao thôi.<br />
<br />
2- Sáo mèo kép có thể thổi đc bao nhiu note? Có thể áp dụng Cảm âm của sáo để thổi sáo mèo kép đc ko? Và nếu mún chơi đc nhìu bài nhạc thì nên mua mèo kép tone nào. Em thấy có 2 loại là = trúc tím và = gỗ ( loại 2 cây dài = nhau ), thì cái nào tốt hơn và giá thành hiện tại 1 cây mèo kép là bao nhiu? Em thì kinh tế chỉ ở hạng khá thôi, nên phải để dành.<br />
<br />
3- Cái này hơi ngoài lề 1 tý, đó là do tay em khá nhỏ ( tuổi thì ng` lớn, nhưng cơ địa thì khá giống con nít ) thì cầm mèo kép đc ko?Em chỉ lo 2 cây ghép lại chìu ngang quá rộng em ko thể cầm để bấm note đc.<br />
-------------------<br />
Em cũng định hỏi về sáo mèo đơn, nhưng tham khảo kha khá thì thấy ng` ta dùng mèo kép nhìu hơn nên quyết định hỏi về mèo kép lun. Mong mấy anh/chị đã và đang chơi sáo mèo giúp đỡ tư vấn dùm, để em có thể mua đc 1 cây sáo mèo tốt. <br />
Chân thành cám ơn ạh!]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Nhận Dạy đàn nhị, guitar, đàn nguyêt, đàn tranh giá rẻ]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=3334</link>
			<pubDate>Thu, 03 Oct 2013 11:51:44 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=3334</guid>
			<description><![CDATA[Tôi nhận dạy đàn nhị, guitar tài tử-cổ điền-đệm hát, đàn nguyệt, đàn tranh ở khu vực Hà Đông-HN.<br />
Với kinh nghiệm hơn 15 năm học chuyên ngành đàn nhị ở Trung Quốc nên tôi sẽ có giáo trình tối ưu từ căn bản đến nâng cao dành cho những bạn muốn học đàn nhị hoặc các loại nhạc cụ dân tộc khác. Lớp được trang bị các loại đàn và máy đập nhịp, lên dây nên các bạn đến học không cần phải mang theo đàn.<br />
<br />
Mọi chi tiết xin liên hệ: 0982943698 gặp Hòa.<br />
Học phí: 50k/buổi 190 phút. 1 kèm 1.<br />
Địa chỉ: Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội.<br />
]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Tôi nhận dạy đàn nhị, guitar tài tử-cổ điền-đệm hát, đàn nguyệt, đàn tranh ở khu vực Hà Đông-HN.<br />
Với kinh nghiệm hơn 15 năm học chuyên ngành đàn nhị ở Trung Quốc nên tôi sẽ có giáo trình tối ưu từ căn bản đến nâng cao dành cho những bạn muốn học đàn nhị hoặc các loại nhạc cụ dân tộc khác. Lớp được trang bị các loại đàn và máy đập nhịp, lên dây nên các bạn đến học không cần phải mang theo đàn.<br />
<br />
Mọi chi tiết xin liên hệ: 0982943698 gặp Hòa.<br />
Học phí: 50k/buổi 190 phút. 1 kèm 1.<br />
Địa chỉ: Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội.<br />
]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Czardas (Melodica) performed by Suguru Ito]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=2987</link>
			<pubDate>Thu, 27 Jun 2013 05:42:02 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=2987</guid>
			<description><![CDATA[Xem rất sướng và buồn cười <img src="http://damsan.net/images/smilies/biggrin.gif" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/BOLvaEnaVUo" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed -->]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Xem rất sướng và buồn cười <img src="http://damsan.net/images/smilies/biggrin.gif" alt="Big Grin" title="Big Grin" class="smilie smilie_4" /><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/BOLvaEnaVUo" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed -->]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Nên gọi là gì đây  ? ]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=2925</link>
			<pubDate>Fri, 07 Jun 2013 05:27:53 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=2925</guid>
			<description><![CDATA[<a href="http://www.youtube.com/watch?v=kHg1JvkwTNo" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=kHg1JvkwTNo</a>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<a href="http://www.youtube.com/watch?v=kHg1JvkwTNo" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=kHg1JvkwTNo</a>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Tabla drum]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=2847</link>
			<pubDate>Thu, 23 May 2013 12:43:50 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=2847</guid>
			<description><![CDATA[Tabla là một nhạc cụ thuộc bộ gõ của Ấn Độ được sử dụng trong âm nhạc cổ điển, nhạc dân gian và nhạc tôn giáo ở các tiểu lục địa Ấn Độ và trong nhạc cổ điển của người Hin-ddu-xtăng. Tên gọi "tabla" có nguồn gốc từ một từ tiếng Phạn có nghĩa là "trống".<br />
<br />
Tabla là một cặp trống. Nó bao gồm một trống tay phải nhỏ gọi là Dayan và một trống tay trái lớn hơn được gọi là Bayan. Trống Dayan được làm bằng gỗ. Đường kính màng rung có thể từ dưới năm inch đến hơn sáu inch. Trống Bayan thường được làm bằng đồng đỏ hoặc đồng thau với một tấm niken hoặc crom là vật liệu phổ biến nhất. Chất lượng trống Bayan thấp hơn với vật liệu nhôm hoặc bằng sắt hoặc thép. Cả hai mặt trống đều là da dê và dây buộc bằng da lạc đà dùng để điều chỉnh cao độ. Các điểm đen lớn trên bề mặt trống tabla là một hỗn hợp của chất kết dính cao su, bồ hóng, và mạt sắt. Chức năng của chúng là để tạo ra  âm sắc giống như tiếng chuông là một đặc điểm của nhạc cụ này. Trống tabla được làm với cái nhìn hài hòa, quyến rũ đã lôi cuốn người chơi nhạc cụ gõ để trải nghiệm những nhịp điệu truyền thống.<br />
<br />
Bộ trống tabla của em đây...he he he...<br />
<br />
<img src="https://lh3.googleusercontent.com/APxEaDflKtUnECq_GmDnbbhqgBnhBTHyRleXxlCy-5g=w368-h207-p-no" border="0" alt="[Hình: APxEaDflKtUnECq_GmDnbbhqgBnhBTHyRleXxlCy...-h207-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh4.googleusercontent.com/0NkDpmma6v5-VnXjvoaKoYuXanLc9IamJXz9pWdj_2Y=w403-h226-p-no" border="0" alt="[Hình: 0NkDpmma6v5-VnXjvoaKoYuXanLc9IamJXz9pWdj...-h226-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh4.googleusercontent.com/CiGfWsC_XS7oiSJFBt7DAsW3xTTnu0bZX_q-2pB6boI=w403-h226-p-no" border="0" alt="[Hình: CiGfWsC_XS7oiSJFBt7DAsW3xTTnu0bZX_q-2pB6...-h226-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh5.googleusercontent.com/7BCDf6cZmTaer87gI7fS3ryo5BoNQeM08H8PmOdXWNI=w404-h226-p-no" border="0" alt="[Hình: 7BCDf6cZmTaer87gI7fS3ryo5BoNQeM08H8PmOdX...-h226-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh5.googleusercontent.com/qxNE9KMUJkKrWxpOGlLDotXh1Ox82JZKQRusE8rdvUc=w117-h207-p-no" border="0" alt="[Hình: qxNE9KMUJkKrWxpOGlLDotXh1Ox82JZKQRusE8rd...-h207-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh6.googleusercontent.com/ALzIxsWz2Rjiu-wGlLdh63xpLTyQBWOK3HpV2WDt1ts=w117-h207-p-no" border="0" alt="[Hình: ALzIxsWz2Rjiu-wGlLdh63xpLTyQBWOK3HpV2WDt...-h207-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh3.googleusercontent.com/HFqIIelGR8eJhI_-jQSd4hZuK8q-yqpaN-nFW_8WXw4=w368-h207-p-no" border="0" alt="[Hình: HFqIIelGR8eJhI_-jQSd4hZuK8q-yqpaN-nFW_8W...-h207-p-no]" /><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/AD9Ikn4uScQ" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/yF_HrFiyrW8" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/ld6gtOiuBRw" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/8ED2TBXHAcQ" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/rpHMPfWCPSo" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/QCWHDKtkk1U" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/-JsMS2U_pBQ" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Tabla là một nhạc cụ thuộc bộ gõ của Ấn Độ được sử dụng trong âm nhạc cổ điển, nhạc dân gian và nhạc tôn giáo ở các tiểu lục địa Ấn Độ và trong nhạc cổ điển của người Hin-ddu-xtăng. Tên gọi "tabla" có nguồn gốc từ một từ tiếng Phạn có nghĩa là "trống".<br />
<br />
Tabla là một cặp trống. Nó bao gồm một trống tay phải nhỏ gọi là Dayan và một trống tay trái lớn hơn được gọi là Bayan. Trống Dayan được làm bằng gỗ. Đường kính màng rung có thể từ dưới năm inch đến hơn sáu inch. Trống Bayan thường được làm bằng đồng đỏ hoặc đồng thau với một tấm niken hoặc crom là vật liệu phổ biến nhất. Chất lượng trống Bayan thấp hơn với vật liệu nhôm hoặc bằng sắt hoặc thép. Cả hai mặt trống đều là da dê và dây buộc bằng da lạc đà dùng để điều chỉnh cao độ. Các điểm đen lớn trên bề mặt trống tabla là một hỗn hợp của chất kết dính cao su, bồ hóng, và mạt sắt. Chức năng của chúng là để tạo ra  âm sắc giống như tiếng chuông là một đặc điểm của nhạc cụ này. Trống tabla được làm với cái nhìn hài hòa, quyến rũ đã lôi cuốn người chơi nhạc cụ gõ để trải nghiệm những nhịp điệu truyền thống.<br />
<br />
Bộ trống tabla của em đây...he he he...<br />
<br />
<img src="https://lh3.googleusercontent.com/APxEaDflKtUnECq_GmDnbbhqgBnhBTHyRleXxlCy-5g=w368-h207-p-no" border="0" alt="[Hình: APxEaDflKtUnECq_GmDnbbhqgBnhBTHyRleXxlCy...-h207-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh4.googleusercontent.com/0NkDpmma6v5-VnXjvoaKoYuXanLc9IamJXz9pWdj_2Y=w403-h226-p-no" border="0" alt="[Hình: 0NkDpmma6v5-VnXjvoaKoYuXanLc9IamJXz9pWdj...-h226-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh4.googleusercontent.com/CiGfWsC_XS7oiSJFBt7DAsW3xTTnu0bZX_q-2pB6boI=w403-h226-p-no" border="0" alt="[Hình: CiGfWsC_XS7oiSJFBt7DAsW3xTTnu0bZX_q-2pB6...-h226-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh5.googleusercontent.com/7BCDf6cZmTaer87gI7fS3ryo5BoNQeM08H8PmOdXWNI=w404-h226-p-no" border="0" alt="[Hình: 7BCDf6cZmTaer87gI7fS3ryo5BoNQeM08H8PmOdX...-h226-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh5.googleusercontent.com/qxNE9KMUJkKrWxpOGlLDotXh1Ox82JZKQRusE8rdvUc=w117-h207-p-no" border="0" alt="[Hình: qxNE9KMUJkKrWxpOGlLDotXh1Ox82JZKQRusE8rd...-h207-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh6.googleusercontent.com/ALzIxsWz2Rjiu-wGlLdh63xpLTyQBWOK3HpV2WDt1ts=w117-h207-p-no" border="0" alt="[Hình: ALzIxsWz2Rjiu-wGlLdh63xpLTyQBWOK3HpV2WDt...-h207-p-no]" /><br />
<br />
<img src="https://lh3.googleusercontent.com/HFqIIelGR8eJhI_-jQSd4hZuK8q-yqpaN-nFW_8WXw4=w368-h207-p-no" border="0" alt="[Hình: HFqIIelGR8eJhI_-jQSd4hZuK8q-yqpaN-nFW_8W...-h207-p-no]" /><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/AD9Ikn4uScQ" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/yF_HrFiyrW8" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/ld6gtOiuBRw" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/8ED2TBXHAcQ" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/rpHMPfWCPSo" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/QCWHDKtkk1U" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/-JsMS2U_pBQ" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed --><br />
<br />
]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Đàn môi]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=2626</link>
			<pubDate>Fri, 29 Mar 2013 16:44:39 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=2626</guid>
			<description><![CDATA[Mình xin giới thiệu về một loại nhạc cụ có âm sắc rất huyền bí.... <br />
ĐÀN MÔI!!<br />
<br />
<img src="https://sphotos-b.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/575130_211175225668893_47939476_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 575130_211175225668893_47939476_n.jpg]" /><br />
Đàn môi H'mông.<br />
<br />
Đàn môi là một nhạc cụ độc đáo có mặt ở hầu hết các châu lục. với dáng hình nhỏ nhắn. Đàn môi có chất liệu khác nhau nhưng đều có hai bộ phận chính là khung cố định và lưỡi gà di động.<br />
<br />
Hiện nay, khoảng 30 quốc gia trên thế giới có đàn môi. So với đàn môi ở các nước Âu Mỹ làm bằng thép, sắt , đồng thau hoặc nhôm và hầu như có cùng một kiểu dáng thì tại Châu Á, tuỳ theo truyền thống và bản sắc từng dân tộc mà đàn môi ở mỗi nước có độ dài ngắn chất liệu, cấu trúc và kỹ thuật diễn tấu khác nhau... <br />
Tùy mỗi nước có tên gọi đàn môi riêng: Ở Anh_mỹ là jew's harp, Pháp là guimbarde, ở Đức và Áo đàn môi được gọi là maultrommeln, Trung quốc là "Koqin_Kou Xiang", Hungary"Doromb", Ấn độ"morchang", Nepal"murchunga", Estonia"Parmupill", Slovakia"Drumbla", italia"Marranzano", Nhật bản"kokin_mukkri", Nga"vargan_khomus", Mông cổ"Aman khuur", Phần lan"Munniharppu", Kyrgyzstan"temir komuz", Na uy"Munnharpe", Czechia"Brumle", Tây Ban nha"trompa", Indonesia"genggong", Philippin "kubing"... và Đàn môi ở Việt Nam.<br />
<img src="https://sphotos-a.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/418333_168741816578901_1963009416_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 418333_168741816578901_1963009416_n.jpg]" /><br />
<br />
<img src="https://fbcdn-sphotos-f-a.akamaihd.net/hphotos-ak-ash3/r270/944646_374481992671548_887499957_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 944646_374481992671548_887499957_n.jpg]" /><br />
Các kiểu đàn môi thế giới<br />
<br />
Vật liệu để làm đàn môi không chỉ bằng kim khí (đồng sắt thép..) mà còn bằng tre, gỗ, cọ....  Đàn môi làm bằng kim loại có thể tìm thấy tại nhiều nước như Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Mông Cổ, Trung Quốc và cá nước châu Âu..., loại đàn môi bằng tre thì có mặt ở Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản..."<br />
<img src="https://sphotos-a.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/430559_274953962624352_1423664610_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 430559_274953962624352_1423664610_n.jpg]" /><br />
Các cây đàn môi kim loại có cùng cấu trúc<br />
<br />
<img src="https://sphotos-b.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/424048_168744369911979_968628597_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 424048_168744369911979_968628597_n.jpg]" /><br />
Các kiểu đàn môi tre của Indonesia<br />
<img src="https://sphotos-b.xx.fbcdn.net/hphotos-prn1/r90/528744_275669009219514_19148965_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 528744_275669009219514_19148965_n.jpg]" /><br />
<br />
Ở Việt Nam, đàn môi là một trong những nhạc cụ được đồng bào các dân tộc thiểu số rất ưa chuộng: "Loại đàn môi bằng kim loại có thể tìm thấy ở vùng người dân tộc Gia Rai, bằng thau ở dân tộc H'mông, bằng tre ở dân tộc Ba Na, Ê Đê...".<br />
Về cách biểu diễn loại nhạc cụ đàn môi, người chơi đặt đàn lên miệng mở hé, dùng ngón tay trỏ của bàn tay phải khảy trên đầu lưỡi của nhạc khí và di chuyển qua lại giữa hai hàm răng, trong khi cổ họng phát ra các nguyên âm a, e, i, o, u... để làm thay đổi thể tích không khí lọt ra ngoài, nhờ đó âm thanh phát ra sẽ có những cao độ khác nhau.<br />
<br />
Đàn môi không chỉ để tiêu khiển mà nhiều nơi còn được nam nữ thanh niên sử dụng để thổ lộ tâm tình như dân tộc H'mông ở Việt Nam.<br />
Một số nơi khác lại có truyền thống kết hợp một lúc mấy chục đàn môi tựa như một dàn nhạc như ở Indonesia. Ở Tuva, đàn môi còn được các thầy thuốc vận dụng thần lực mạnh mẽ khảy đàn tạo ra những âm thanh huyền bí dùng để chữa bệnh.<br />
<img src="https://sphotos-b.xx.fbcdn.net/hphotos-snc6/218050_304960142957067_1996746373_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 218050_304960142957067_1996746373_n.jpg]" /><br />
Đàn môi_Khomus từ Siberia<br />
<br />
<img src="https://sphotos-a.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/580342_525425877495889_1634980353_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 580342_525425877495889_1634980353_n.jpg]" /><br />
<img src="https://sphotos-b.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/403075_127267174059699_720750212_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 403075_127267174059699_720750212_n.jpg]" /><br />
<img src="https://sphotos-a.xx.fbcdn.net/hphotos-ash4/404766_127266717393078_1002459404_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 404766_127266717393078_1002459404_n.jpg]" /><br />
Lễ hội đàn môi từ Yakutia, đông bắc nước Nga<br />
<br />
Đàn môi H'mông Việt Nam được xem là loại đàn môi có giá trị và bồi âm đúng nhất, đông đảo người dân trên thế giới thừa nhận đàn môi Việt nam là hay nhất. Ngoài ra Việt Nam là đất nước phong phú về chủng loại đàn môi nhất.<br />
Vài clip về đàn môi<br />
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=fXjdBRQ9-mk" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=fXjdBRQ9-mk</a><br />
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=jKprTNG5Ik8" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=jKprTNG5Ik8</a><br />
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=4kR0zxp0gjE&amp;list=PL43FE56B8540EAC09" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=4kR0zxp0g...B8540EAC09</a><br />
<br />
Facebook <a href="https://www.facebook.com/nguyen.overtone" target="_blank">https://www.facebook.com/nguyen.overtone</a>]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Mình xin giới thiệu về một loại nhạc cụ có âm sắc rất huyền bí.... <br />
ĐÀN MÔI!!<br />
<br />
<img src="https://sphotos-b.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/575130_211175225668893_47939476_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 575130_211175225668893_47939476_n.jpg]" /><br />
Đàn môi H'mông.<br />
<br />
Đàn môi là một nhạc cụ độc đáo có mặt ở hầu hết các châu lục. với dáng hình nhỏ nhắn. Đàn môi có chất liệu khác nhau nhưng đều có hai bộ phận chính là khung cố định và lưỡi gà di động.<br />
<br />
Hiện nay, khoảng 30 quốc gia trên thế giới có đàn môi. So với đàn môi ở các nước Âu Mỹ làm bằng thép, sắt , đồng thau hoặc nhôm và hầu như có cùng một kiểu dáng thì tại Châu Á, tuỳ theo truyền thống và bản sắc từng dân tộc mà đàn môi ở mỗi nước có độ dài ngắn chất liệu, cấu trúc và kỹ thuật diễn tấu khác nhau... <br />
Tùy mỗi nước có tên gọi đàn môi riêng: Ở Anh_mỹ là jew's harp, Pháp là guimbarde, ở Đức và Áo đàn môi được gọi là maultrommeln, Trung quốc là "Koqin_Kou Xiang", Hungary"Doromb", Ấn độ"morchang", Nepal"murchunga", Estonia"Parmupill", Slovakia"Drumbla", italia"Marranzano", Nhật bản"kokin_mukkri", Nga"vargan_khomus", Mông cổ"Aman khuur", Phần lan"Munniharppu", Kyrgyzstan"temir komuz", Na uy"Munnharpe", Czechia"Brumle", Tây Ban nha"trompa", Indonesia"genggong", Philippin "kubing"... và Đàn môi ở Việt Nam.<br />
<img src="https://sphotos-a.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/418333_168741816578901_1963009416_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 418333_168741816578901_1963009416_n.jpg]" /><br />
<br />
<img src="https://fbcdn-sphotos-f-a.akamaihd.net/hphotos-ak-ash3/r270/944646_374481992671548_887499957_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 944646_374481992671548_887499957_n.jpg]" /><br />
Các kiểu đàn môi thế giới<br />
<br />
Vật liệu để làm đàn môi không chỉ bằng kim khí (đồng sắt thép..) mà còn bằng tre, gỗ, cọ....  Đàn môi làm bằng kim loại có thể tìm thấy tại nhiều nước như Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Mông Cổ, Trung Quốc và cá nước châu Âu..., loại đàn môi bằng tre thì có mặt ở Việt Nam, Indonesia, Nhật Bản..."<br />
<img src="https://sphotos-a.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/430559_274953962624352_1423664610_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 430559_274953962624352_1423664610_n.jpg]" /><br />
Các cây đàn môi kim loại có cùng cấu trúc<br />
<br />
<img src="https://sphotos-b.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/424048_168744369911979_968628597_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 424048_168744369911979_968628597_n.jpg]" /><br />
Các kiểu đàn môi tre của Indonesia<br />
<img src="https://sphotos-b.xx.fbcdn.net/hphotos-prn1/r90/528744_275669009219514_19148965_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 528744_275669009219514_19148965_n.jpg]" /><br />
<br />
Ở Việt Nam, đàn môi là một trong những nhạc cụ được đồng bào các dân tộc thiểu số rất ưa chuộng: "Loại đàn môi bằng kim loại có thể tìm thấy ở vùng người dân tộc Gia Rai, bằng thau ở dân tộc H'mông, bằng tre ở dân tộc Ba Na, Ê Đê...".<br />
Về cách biểu diễn loại nhạc cụ đàn môi, người chơi đặt đàn lên miệng mở hé, dùng ngón tay trỏ của bàn tay phải khảy trên đầu lưỡi của nhạc khí và di chuyển qua lại giữa hai hàm răng, trong khi cổ họng phát ra các nguyên âm a, e, i, o, u... để làm thay đổi thể tích không khí lọt ra ngoài, nhờ đó âm thanh phát ra sẽ có những cao độ khác nhau.<br />
<br />
Đàn môi không chỉ để tiêu khiển mà nhiều nơi còn được nam nữ thanh niên sử dụng để thổ lộ tâm tình như dân tộc H'mông ở Việt Nam.<br />
Một số nơi khác lại có truyền thống kết hợp một lúc mấy chục đàn môi tựa như một dàn nhạc như ở Indonesia. Ở Tuva, đàn môi còn được các thầy thuốc vận dụng thần lực mạnh mẽ khảy đàn tạo ra những âm thanh huyền bí dùng để chữa bệnh.<br />
<img src="https://sphotos-b.xx.fbcdn.net/hphotos-snc6/218050_304960142957067_1996746373_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 218050_304960142957067_1996746373_n.jpg]" /><br />
Đàn môi_Khomus từ Siberia<br />
<br />
<img src="https://sphotos-a.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/580342_525425877495889_1634980353_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 580342_525425877495889_1634980353_n.jpg]" /><br />
<img src="https://sphotos-b.xx.fbcdn.net/hphotos-snc7/403075_127267174059699_720750212_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 403075_127267174059699_720750212_n.jpg]" /><br />
<img src="https://sphotos-a.xx.fbcdn.net/hphotos-ash4/404766_127266717393078_1002459404_n.jpg" border="0" alt="[Hình: 404766_127266717393078_1002459404_n.jpg]" /><br />
Lễ hội đàn môi từ Yakutia, đông bắc nước Nga<br />
<br />
Đàn môi H'mông Việt Nam được xem là loại đàn môi có giá trị và bồi âm đúng nhất, đông đảo người dân trên thế giới thừa nhận đàn môi Việt nam là hay nhất. Ngoài ra Việt Nam là đất nước phong phú về chủng loại đàn môi nhất.<br />
Vài clip về đàn môi<br />
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=fXjdBRQ9-mk" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=fXjdBRQ9-mk</a><br />
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=jKprTNG5Ik8" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=jKprTNG5Ik8</a><br />
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=4kR0zxp0gjE&amp;list=PL43FE56B8540EAC09" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=4kR0zxp0g...B8540EAC09</a><br />
<br />
Facebook <a href="https://www.facebook.com/nguyen.overtone" target="_blank">https://www.facebook.com/nguyen.overtone</a>]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Các nhạc cụ truyền thống dân tộc Thái - Tây Bắc]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=2504</link>
			<pubDate>Thu, 07 Feb 2013 03:33:19 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=2504</guid>
			<description><![CDATA[Một số nhạc cụ của dân tộc Thái vùng Tây Bắc, mời anh em xem và nghiên cứu<br />
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=RpihjprwOlo" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=RpihjprwOlo</a><br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/RpihjprwOlo" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed -->]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Một số nhạc cụ của dân tộc Thái vùng Tây Bắc, mời anh em xem và nghiên cứu<br />
<a href="http://www.youtube.com/watch?v=RpihjprwOlo" target="_blank">http://www.youtube.com/watch?v=RpihjprwOlo</a><br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/RpihjprwOlo" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed -->]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[lập nhóm chơi melodica]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=2492</link>
			<pubDate>Sat, 02 Feb 2013 02:52:31 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=2492</guid>
			<description><![CDATA[gần đây mình có chơi thử nhạc cụ này và thấy nó rất hay, nhưng lại có rất ít người chơi và không có tài liệu hướng dẫn nào, nhân đây xin lập ra topic này để mọi người có thể cùng nhau trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, phương pháp tập luyện và các kỹ thuật chơi melodica...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[gần đây mình có chơi thử nhạc cụ này và thấy nó rất hay, nhưng lại có rất ít người chơi và không có tài liệu hướng dẫn nào, nhân đây xin lập ra topic này để mọi người có thể cùng nhau trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, phương pháp tập luyện và các kỹ thuật chơi melodica...]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[[Tài liệu chung]Các loại nhạc cụ trên toàn thế giới]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=2304</link>
			<pubDate>Sat, 24 Nov 2012 08:34:32 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=2304</guid>
			<description><![CDATA[<div style="text-align: center;"><img src="http://test.woodwind.org/images/largelogo.jpg" border="0" alt="[Hình: largelogo.jpg]" /></div>
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://music.pppst.com/banner_brass_instruments.gif" border="0" alt="[Hình: banner_brass_instruments.gif]" /></div>
<br />
<span style="text-decoration: underline;"><span style="font-weight: bold;">I. Lời mở đầu</span></span><br />
Tham gia diễn đàn DamSan cũng đã một thời gian rồi, nhưng thiết nghĩ mình vẫn chưa hề đóng góp một chút gì cho mái nhà này, nên hôm nay em mới mạo muội thành lập chủ đề về nhạc cụ tổng hợp này, với mục đích để mọi người cùng nhau chia sẻ kiến thức về nhạc cụ trên toàn thế giới của mình. Mong được anh em DamSan hưởng ứng!<br />
<br />
<span style="text-decoration: underline;"><span style="font-weight: bold;">II. Về việc đăng tải tài liệu</span></span><br />
Khuyến khích mọi người tự nghiên cứu tìm tòi và viết tài liệu cho anh em tham khảo, nên chèn thêm hình ảnh và video (hay audio) nếu có thể và khuyến khích bổ sung thêm về tư liệu cho nhau. Ngoài ra có thể dịch từ các tài liệu nước ngoài hoặc trích dẫn tài liệu của người khác và xin ghi lại nguồn các tài liệu ấy.<br />
<br />
<span style="text-decoration: underline;"><span style="font-weight: bold;">III. Tài liệu nhạc cụ</span></span><br />
A. Bộ Gỗ<br />
<a href="http://damsan.net/showthread.php?tid=2304&amp;pid=13762#pid13762" target="_blank">Shinobue - Nhật Bản<br />
</a><br />
<a href="http://damsan.net/showthread.php?tid=2304&amp;pid=14260#pid14260" target="_blank">Suona - Trung Quốc<br />
</a><br />
B. Bộ Đồng<br />
<br />
C. Bộ Dây<br />
<a href="http://damsan.net/showthread.php?tid=2304&amp;pid=14772#pid14772" target="_blank">Shamisen - Nhật Bản</a><br />
<br />
D. Bộ Gõ<br />
<br />
E. Tài liệu bổ sung<br />
<br />
...]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: center;"><img src="http://test.woodwind.org/images/largelogo.jpg" border="0" alt="[Hình: largelogo.jpg]" /></div>
<br />
<div style="text-align: center;"><img src="http://music.pppst.com/banner_brass_instruments.gif" border="0" alt="[Hình: banner_brass_instruments.gif]" /></div>
<br />
<span style="text-decoration: underline;"><span style="font-weight: bold;">I. Lời mở đầu</span></span><br />
Tham gia diễn đàn DamSan cũng đã một thời gian rồi, nhưng thiết nghĩ mình vẫn chưa hề đóng góp một chút gì cho mái nhà này, nên hôm nay em mới mạo muội thành lập chủ đề về nhạc cụ tổng hợp này, với mục đích để mọi người cùng nhau chia sẻ kiến thức về nhạc cụ trên toàn thế giới của mình. Mong được anh em DamSan hưởng ứng!<br />
<br />
<span style="text-decoration: underline;"><span style="font-weight: bold;">II. Về việc đăng tải tài liệu</span></span><br />
Khuyến khích mọi người tự nghiên cứu tìm tòi và viết tài liệu cho anh em tham khảo, nên chèn thêm hình ảnh và video (hay audio) nếu có thể và khuyến khích bổ sung thêm về tư liệu cho nhau. Ngoài ra có thể dịch từ các tài liệu nước ngoài hoặc trích dẫn tài liệu của người khác và xin ghi lại nguồn các tài liệu ấy.<br />
<br />
<span style="text-decoration: underline;"><span style="font-weight: bold;">III. Tài liệu nhạc cụ</span></span><br />
A. Bộ Gỗ<br />
<a href="http://damsan.net/showthread.php?tid=2304&amp;pid=13762#pid13762" target="_blank">Shinobue - Nhật Bản<br />
</a><br />
<a href="http://damsan.net/showthread.php?tid=2304&amp;pid=14260#pid14260" target="_blank">Suona - Trung Quốc<br />
</a><br />
B. Bộ Đồng<br />
<br />
C. Bộ Dây<br />
<a href="http://damsan.net/showthread.php?tid=2304&amp;pid=14772#pid14772" target="_blank">Shamisen - Nhật Bản</a><br />
<br />
D. Bộ Gõ<br />
<br />
E. Tài liệu bổ sung<br />
<br />
...]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Đây là sáo gì ???]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=2007</link>
			<pubDate>Sat, 06 Oct 2012 09:41:41 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=2007</guid>
			<description><![CDATA[Lang thang trên youtube em vô tình phát hiện ra loại sáo này.Siêu trầm,siêu khủng.Giấc mơ có cây sáo trầm hơn tiêu trở thành sự thật,còn rất nhiều loại sáo làm từ tre trúc mà mình vẫn chưa biết tới.Mời cả nhà xem qua <br />
 Hình như tên nhạc cụ này là moseno<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/bmrtyZBkrQ0" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed -->]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Lang thang trên youtube em vô tình phát hiện ra loại sáo này.Siêu trầm,siêu khủng.Giấc mơ có cây sáo trầm hơn tiêu trở thành sự thật,còn rất nhiều loại sáo làm từ tre trúc mà mình vẫn chưa biết tới.Mời cả nhà xem qua <br />
 Hình như tên nhạc cụ này là moseno<br />
<!-- start: video_youtube_embed --><br />
<iframe width="560" height="315" src="//www.youtube.com/embed/bmrtyZBkrQ0" frameborder="0" allowfullscreen></iframe><br />
<!-- end: video_youtube_embed -->]]></content:encoded>
		</item>
		<item>
			<title><![CDATA[Chuông, trống, mõ, khánh, bản, nguồn gốc và ý nghĩa]]></title>
			<link>http://damsan.net/showthread.php?tid=1803</link>
			<pubDate>Thu, 06 Sep 2012 03:09:00 +0000</pubDate>
			<guid isPermaLink="false">http://damsan.net/showthread.php?tid=1803</guid>
			<description><![CDATA[Bài viết được sưu tập từ nhiều nguồn :<br />
<br />
<br />
<br />
Chuông, <a href="http://trongdoitam.vn" target="_blank">trống</a>, khánh, bản… là các loại pháp khí của Phật Giáo. Còn “chuông, trống Bát Nhã” là danh từ chung để chỉ cho đại hồng chung (chuông rất lớn) và trống lớn, thường được đặt hai bên trái phải của chánh điện, theo cách “tả chung, hữu cổ” nghĩa là bên trái đặt chuông, bên phải đặt trống. Nhiều chùa còn xây tháp an trí chuông và trống, nên nơi đặt chuông trống gọi là lầu chuông trống; lầu chuông  (chung lâu); lầu trống (cổ lâu)…<br />
<br />
I. Nguồn gốc và ý nghĩa của CHUÔNG:<br />
<br />
Nhiều nguồn tài liệu khác nhau đều cho rằng quá trình đưa chuông vào tự viện và được sử dụng rộng rãi trong các chùa chiền Trung Hoa vào thời kỳ nào không được xác định. Tuy nhiên, theo như sử liệu ghi lại, thì chuông đã được sử dụng vào thời nhà Chu (557 trước TL- 89 TL) ở Trung Hoa. Phật giáo Trung Hoa đã đưa chuông và trống vào các tự viện năm nào và do ai đề xướng, hiện nay chúng tôi chưa tìm ra tài liệu. Tài liệu về lịch sử của chuông và trống Bát Nhã quả thật là hiếm. Tuy nhiên, chúng tôi dựa vào một ít tài liệu sau để tạm truy nguyên nguồn gốc:<br />
<br />
Cuốn Quảng Hoằng Minh Tập (số 2103) trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh ghi rằng vào thời Lục Triều (420 – 479) đã có nhiều lầu chuông. Năm Thiên Hoà thứ 5 (566) đời Bắc Châu, bài Nhị Giáo Chung Minh được khắc trên ba đại hồng chung lớn nhất thời bấy giờ. 2 cái trong 3 cái này được đúc vào năm 570 và 665 TL.<br />
<br />
Tục Cao Tăng Truyện có ghi năm thứ 5 đời Tuỳ Đại Nghiệp (609), ngài Trí Hưng nhận lo việc chuông tại chùa Thiền Định ở kinh đô Trường An. Trong khoảng thời gian này và trở về sau, Bắc Châu không ngừng đúc hồng chung để an trí trong các tự viện.<br />
<br />
Lại nữa, theo truyền thuyết cho rằng hồng chung là do Hoà Thượng Chí Công khởi xướng và vua Lương Võ Đế (thế kỷ thứ VI) thực hiện để cầu nguyện cho các thần thức bị đọa trong chốn địa ngục gọi là chốn U Minh.<br />
<br />
Trong bộ kinh Kim Cang Chí cũng có chép: “Vua Hiếu Cao Hoàng đế đời nhà Đường nhơn vì nghe lời sàm tấu của Tống Tề Khưu mà giết lầm kẻ tôi trung tên là Hòa Châu, nên khi chết vua bị đọa vào địa ngục. Một hôm có một người bị bạo tử (chết thình lình) thần hồn đi lạc vào địa ngục ấy, thấy một tội nhân đang bị gông cùm, bị kềm kẹp đánh đập rất là khổ sở, hỏi ra thì mới biết là vua Hiếu Cao nhà Đường. Vua gọi vị bạo tử ấy vào mà nói rằng: Nhờ ngươi trở lại dương thế nói giúp với hậu chúa rằng: Hãy vì ta mà đúc chuông cúng dường và làm các việc từ thiện. Khi trở lại dương thế, người bạo tử liền đến yết kiến hậu chúa để chuyển lời nhắn nhủ của vua Hiếu Cao. Nghe vậy, hậu chúa liền thân hành đến chùa Thanh Lương phát nguyện đúc một quả chuông để cúng dường và cầu siêu cho Hiếu Cao hoàng đế”. (Tích nầy trong truyện Bách Trượng Thanh Quy, trang 68 và 87).<br />
<br />
Trong Ðường Thi có bài thơ của Trương Kế (thời Thịnh Ðường), tả một đêm nằm trong thuyền, nghe tiếng chuông chùa Hàn San vọng lại. Bài thơ là một tuyệt tác, có liên quan tới chuông, chùa và thời gian, đã gây nhiều tranh luận và có nhiều bản dịch, tưởng cũng nên chép ra đây:<br />
<br />
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,<br />
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.<br />
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự,<br />
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.<br />
<br />
Tản Ðà dịch:<br />
Trăng tà tiếng quạ kêu sương,<br />
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ.<br />
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,<br />
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.<br />
<br />
Nguyễn Hàm Ninh dịch:<br />
Quạ kêu, trăng lặn, trời sương,<br />
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ.<br />
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,<br />
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.<br />
<br />
Hồ Ðiệp lại ngâm:<br />
Trăng tà chiếc quạ kêu sương,<br />
Lửa chài cây bến còn vương giấc hồ.<br />
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,<br />
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.<br />
<br />
Ngô Tất Tố dịch:<br />
Quạ kêu, sương tỏa, trăng lui,<br />
Ðèn chài, cây bãi, đối người nằm khô.<br />
Chùa đâu trên núi Cô Tô,<br />
Tiếng chuông đưa đến bến đò canh khuya.<br />
<br />
Trần Trọng Kim dịch:<br />
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,<br />
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co.<br />
Con thuyền đậu bến Cô Tô,<br />
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.<br />
<br />
Trần Trọng San dịch:<br />
Quạ kêu, trăng lẩn sương trời,<br />
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài bến phong.<br />
Ðêm Cô Tô vẳng tiếng chuông,<br />
Chùa Hàn San đến thuyền sông Phong Kiều.<br />
<br />
Lý Nhược Tam dịch:<br />
Ô đề trăng lặng sương giăng,<br />
Ðèn câu thức bóng lăn tăn gợn sầu.<br />
Hàn Sơn Tự, đất Tô Châu,<br />
Chuông khuya vọng đến Phong Kiều thuyền neo.<br />
<br />
Hữu Nguyên dịch: Quạ kêu, trăng lặn, ngút trời sương,<br />
Phong bãi, đèn câu đắm mộng trường.<br />
Đêm vắng Cô Tô thuyền khách đậu,<br />
Chuông Hàn San Tự thoảng đưa sang.<br />
<br />
Huệ Thu dịch:<br />
Trăng chìm quạ khóc trời sương,<br />
Ðèn chong cây lặng nghe buồn miên man.<br />
Cô Tô phố ngoại chùa Hàn,<br />
Nửa đêm chuông đổ rớt sang thuyền chờ .<br />
<br />
Do chuông không bao giờ thỉnh vào nửa đêm hay giữa khuya, như vậy thì tác giả Trương Kế đã sai, nhưng người ta thường nghĩ thi sĩ thì phải có nhận xét, ghi chép đúng, vã lại chữ bán dạ mới hay, cho nên người sau đặt ra chuyện cho hợp lý với bài thơ:<br />
<br />
“Có nhà sư trụ trì chùa Hàn San, một đêm vào mồng 3 hay mồng 4 ngẫu hứng cảm tác thành thơ:<br />
<br />
Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung,<br />
Bán tự ngân câu bán tự cung.<br />
<br />
Rồi hết ý, loay hoay không tìm ra hai câu kết. Cũng đêm ấy có chú Tiểu ra ngoài, nhìn thấy trăng in bóng dưới vũng nước. Lúc trở vào thấy Thầy ngồi tư lự, mạn phép hỏi thầy về cớ sự, sau khi được Thầy cho biết, chú nhớ mảnh trăng mình vừa mới gặp, nửa in dưới nước nửa cài trên không, nên xin được dâng thầy hai câu kết:<br />
<br />
Thùy bả ngọc hoàn phân lưỡng đoạn,<br />
Bán trầm thủy để, bán phù không.<br />
<br />
Thầy cũng vừa ý với hai câu kết, cả hai thầy trò hoan hỷ nên lên chánh điện dâng hương tạ ân Phật, đồng thời thỉnh chuông, nên mới có tiếng chuông vào lúc nửa đêm, vang đến thuyền của thi sĩ Trương Kế.”<br />
<br />
Thi sĩ Cao Tiêu dịch bài thơ trên:<br />
<br />
Trăng non mùng bốn mùng ba,<br />
Nửa như móc bạc, nửa là cánh cung.<br />
Ai đem bẻ nửa chiếc vòng,<br />
Nước in một nửa, trên không nửa cài.<br />
<br />
Nhưng mà đâu phải thi sĩ hay thi hào, thi bá là có nhận xét đúng. Cũng trong thi văn Trung Hoa có giai thoại sau:<br />
<br />
Có lần Tô Ðông Pha đọc thơ Vương An Thạch – tự Giới Phủ – danh nho học rộng, tài cao, giữ chức Tể Tướng dưới triều Tống Thần Tông, một người đi trước và lại đang làm quan đầu triều, đọc thấy câu:<br />
<br />
Minh nguyệt sơn đầu khiếu,<br />
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm.<br />
<br />
Tô Ðông Pha bèn chê là vô lý: trăng sáng sao lại hót được ở đầu núi, chó vàng sao nằm giữa lòng hoa cho được? Chê xong, sửa ra:<br />
<br />
Minh nguyệt sơn đầu chiếu,<br />
Hoàng khuyển ngọa hoa âm.<br />
<br />
Trăng soi đầu núi, chó nằm bóng hoa thì hợp lý, và bài thơ hay quá!<br />
<br />
Về sau Tô Ðông Pha gay gắt chống Tân pháp của Vương An Thạch nên bị đày xuống miền cực Nam. Ðến đất ấy, Tô Ðông Pha mới biết có một loại chim gọi là “Minh nguyệt” và một loại sâu là “Hoàng khuyển”!<br />
<br />
Các loại chuông thường được sử dụng trong các chùa chiền, tự viện:<br />
<br />
a) Phạn chung (chuông Phạn): Cũng gọi là “đại chung”, “hồng chung”, “hoa chung” hoặc “cự chung”. Chuông này được đúc bằng đồng xanh pha ít sắt. Thông thường chuông cao khoảng 1,5m, đường kính khoảng 6 tấc. Loại này treo trong lầu chuông, mục đích thỉnh chuông là để chiêu tập đại chúng hoặc báo thời sớm tối. Người Việt mình thường dùng từ “đại hồng chung” chỉ cho loại chuông thật to, gần như không còn có quy định cụ thể là rộng hẹp bao nhiêu nữa. Chuông này còn gọi là chuông U Minh.<br />
<br />
b) Bán chung (chuông bán): Vì chiều kích chỉ lớn bằng 1/2 chuông phạn, nên gọi là bán chung, còn được gọi là “hoán chung” hoặc “tiểu chung.” Chuông này thường được đúc bằng đồng, cao khoảng 6 đến 8 tấc, thường để tại 1 góc trong chánh điện và được sử dụng trong các buổi pháp hội, nên còn có tên khác là “hành lễ chung”. Người Việt Nam cũng như các nước khác ngày nay cũng linh động chế tạo nhiều loại chuông dạng “bán chung” này, nhưng cũng không có kích thước cố định.<br />
<br />
c) Bảo Chúng chung (chuông báo chúng): Cũng gọi là chuông Tăng đường, tức là chuông nhỏ, chỉ một người xách lên được. Hình dạng cũng như đại hồng chung, được treo ở trai đường, dùng để báo tin cho Tăng chúng biết vào những lúc: Họp đại chúng, thọ trai, giờ chấp tác, giờ bái sám trong các tự viện.<br />
<br />
d) Gia Trì chung (chuông gia trì): Loại chuông nầy dùng để đánh lên trong lúc tụng kinh, bái sám. Tiếng chuông được sử dụng trước khi tụng kinh hay báo hiệu sắp hết đoạn kinh đang tụng hoặc câu niệm Phật. Cũng thường được đánh lên khi lạy Phật một mình. Còn khi đông người thì để báo hiệu cùng lạy cho nhịp nhàng. Chuông gia trì có đủ ba loại lớn, vừa và nhỏ. Chuông vừa và nhỏ thì thường thường Phật tử tại gia dùng nhiều hơn và cũng dùng như chư Tăng.<br />
<br />
Trong thời cực thịnh của Thiền Tông, chuông an trí tại thiền đường, trai đường gọi là “Tăng Đường chung”, “Trai chung”; chuông để tại chánh điện gọi là “Điện chung”… Những vị lo việc chuông này gọi là “Chung Đầu.”<br />
<br />
Về việc thỉnh (đánh) chuông, xưa ở Trung Hoa tuỳ mỗi Tông phái, từng địa phương mà quy định có khác nhau, nhưng tổng quát là khi bắt đầu thỉnh 3 tiếng và khi kết thúc đánh nhanh 2 tiếng hoặc 3 hồi chín tiếng cho các loại chuông nhỏ khi tụng kinh. Số lượng tiếng thường là 18, cũng có khi thỉnh 36 tiếng, 108 tiếng. Thỉnh 108 tiếng biểu thị hành giả nỗ lực làm vơi cạn đi 108 loại phiền não nơi nội tâm. Mười tám tiếng là biểu thị sự thanh lọc 6 căn, 6 trần và 6 thức.<br />
<br />
Theo niềm tin cho rằng tiếng vang của chuông có thể thấu đến cõi địa ngục u ám, chúng sanh nào bị đọa nơi địa ngục nhờ nghe tiếng chuông này liền được giải thoát. Lại nữa, tiếng chuông thanh thoát của chùa có thể giúp cho loài quỷ đói được nhẹ bớt lòng tham lam, sân hận mà giải thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Ở các ngôi chùa Việt Nam hiện nay cũng như các chùa Trung Quốc thời xưa hoặc các chùa thuộc các nước theo Phật giáo Đại Thừa như Nhật Bản, Triều Tiên… thường có quả chuông lớn để thỉnh vào hai buổi sáng tối trong ngày khi cầu nguyện. Giờ thỉnh chuông buổi sáng lúc 4 giờ hoặc trước thời công phu buổi sang, tuỳ theo quy định của mỗi chùa.<br />
<br />
Kệ thỉnh chuông:<br />
Người thỉnh chuông vừa đánh chuông vừa đọc bài kệ:<br />
<br />
Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới,<br />
Thiết vi u ám tất giai văn.<br />
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,<br />
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.<br />
<br />
Nghĩa là:<br />
<br />
Nguyện tiếng chuông này khắp pháp giới,<br />
Thiết vi u ám cùng nghe được,<br />
Căn cảnh thanh tịnh chứng viên thông,<br />
Hết thảy chúng sanh thành chánh giác.<br />
(Bản dịch của Hòa Thượng Trí Quang – Luật Sa-di, Sa-di-ni – Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, 1989).<br />
<br />
Dịch thơ:<br />
<br />
1. Nguyện tiếng chuông vang rền pháp giới,<br />
Chúng sanh ngục sắt thảy đều nghe.<br />
Tiếng đời sạch, chứng được viên thông,<br />
Tất cả muôn loài đều giác ngộ.<br />
(Thích Nhật Từ ).<br />
<br />
2. Tiếng chuông nguyện vang rền các cõi,<br />
Núi Thiết Vi tăm tối nghe hay.<br />
Âm thanh đời lắng sạch thay,<br />
Chúng sanh giác ngộ, tỏ bày an nhiên.<br />
(Thích Nhật Từ).<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
<br />
II. Nguồn gốc và ý nghĩa của<a href="http://trongdoitam.net" target="_blank"> TRỐNG</a>:<br />
<img src="http://trongdoitam.vn/uploads/2012/09/trong-chua.jpg" border="0" alt="[Hình: trong-chua.jpg]" /><br />
<br />
Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đá, cây, đồng v.v… Xưa tại Ấn Ðộ dùng để báo thời gian, cảnh báo. Khi Ðức Phật còn tại thế, dùng nó để tập họp chúng Tăng bố tát, nghe pháp…<br />
<br />
Ngũ Phần Luật có ghi: “Chư Tỳ-kheo bố – tát, chúng bất thời tập. Phật ngôn: nhược đả kiền chuỳ, nhược đả cổ…”.  Trong kinh Lăng Nghiêm chép: Đức Phật dạy: “Này A Nan! Ông hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, nghe tiếng chuông mỗi khi nhóm họp đại chúng trong Tịnh xá Kỳ Ðà Hoàn nầy. Tiếng trống hoặc tiếng chuông ấy trước sau nối tiếp nhau. Vậy, theo ý ông, mỗi khi ông nghe được các thứ tiếng ấy là vì nó tự bay đến bên tai ông, hay tai ông đến nơi chỗ phát tiếng ấy?”. (Đây là lúc đức Phật chỉ cái Tâm cho ngài A Nan)<br />
<br />
Trung Hoa thời xưa dùng nó trong các dịp lễ lộc, vũ hội… Có loại lớn, loại nhỏ, loại treo hoặc để trên giá… Trống lớn gọi là trống tẩu, nhỏ gọi là trống ứng, treo để đánh gọi là trống treo…<br />
<br />
Từ đời Ðường về sau, theo thanh quy của thiền môn, trống là một trong những loại pháp khí dùng làm hiệu lệnh báo thời sớm tối. Sau này Phật Giáo Trung Hoa tiến thêm bước nữa là phối hợp nhịp điệu, âm thanh của tiếng Trống hòa cùng những lời tán tụng, phổ thành nhạc điệu, gọi là “kỹ nhạc cúng dường; trang nghiêm đạo tràng”, dùng âm thanh làm Phật sự, trợ giúp đại chúng phát tâm thành kính với Tam Bảo.<br />
<br />
Ai đã đưa Trống vào tự viện? Năm nào? Chúng tôi chưa tìm ra tài liệu để đưa ra một giả thuyết khả dĩ. Tuy nhiên, dựa vào bản dịch bài Thiền Sư Đại Điên và Hàn Dũ thời Đường Hiến Tông năm 820, chúng ta thấy chuông và trống đã được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ Phật giáo. Do đó, ít nhất chúng ta đoán được là trước năm 820, trống đã được đưa vào chùa để làm pháp khí.<br />
<br />
Ngày nay, có một vài nghi thức tán tụng ở miền Trung và miền Nam Việt Nam sử dụng Trống nhỏ để hỗ trợ cho chư Tăng Ni khi tán tụng. Các loại nghi thức tán tụng này có lẽ cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, vì các thời tụng niệm của Phật giáo Trung Hoa đều có tán, và loại trống nhỏ này cũng được xem như một loại pháp khí.<br />
<br />
Trống sử dụng trong chùa chiền, tự viện có hai loại:<br />
<br />
a. Trống lớn (dân gian quen gọi là đại cổ; tiếng bình dân Việt Nam còn gọi là trống đại): Đánh vào những buổi lễ Phật và các dịp lễ lớn gọi là trống Bát Nhã.<br />
<br />
b. Trống nhỏ (dân gian quen gọi là tiểu cổ; tiếng bình dân Việt Nam còn gọi là trống cơm): Dùng để đánh mỗi khi tụng kinh nên cũng được gọi là trống kinh. Ngoài việc dùng đánh khi tụng kinh hằng ngày vào hai thời công phu khuya và chiều trong các tự viện, còn có rất nhiều thể điệu khác nhau khi dùng trong tang lễ, chẩn tế cô hồn v.v…<br />
<br />
Chuông trống Bát Nhã:<br />
Tiếng chuông trống Bát Nhã đánh lên để cung thỉnh Phật đăng bảo tọa. Sở dĩ gọi là Bát-nhã (phiên âm của từ ngữ “prajnaa” của chữ Sanskrit có nghĩa là “trí tuệ”) vì công năng của chúng là để thức tỉnh lòng người, có khả năng đánh động tâm linh của người nghe. ( <a href="http://trongthanglong.net" target="_blank">Trống thăng long </a>")<br />
<br />
Thật ra nhóm từ ngữ “chuông trống Bát Nhã” là để chỉ nghi thức đánh chuông và trống theo bài kệ “Bát Nhã Hội”. Đây là một nghi thức hành lễ Phật Giáo Trung Hoa truyền sang Việt Nam, có lẽ xuất phát từ Không Tông, do nghi thức rất trang trọng nên dần dần chùa chiền các Tông phái khác áp dụng theo.<br />
<br />
Có nhiều cách đánh chuông trống Bát Nhã nhưng hầu hết chùa chiền Việt Nam áp dụng cách thỉnh chuông trống Bát Nhã theo bài kệ Bát Nhã Hội nói trên như sau:<br />
<br />
Bát nhã hội,<br />
Thỉnh Phật thượng đường.<br />
Đại chúng đồng văn,<br />
Bát nhã âm.<br />
Phổ nguyện pháp giới,<br />
Đẳng hữu tình,<br />
Nhập Bát nhã,<br />
Ba la mật môn.<br />
<br />
Nghĩa là:<br />
<br />
Hội Bát nhã,<br />
Thỉnh Phật lên tòa,<br />
Đại chúng đều nghe:<br />
Âm Bát nhã.<br />
Nguyện khắp pháp giới,<br />
Chúng hữu tình,<br />
Nhập Bát nhã,<br />
Chứng Ba la mật.<br />
<br />
Có lẽ khởi đầu chuông trống Bát Nhã chỉ chính thức cử lên trong những nghi lễ lớn của Phật Giáo, hoặc để thỉnh Phật chứng minh cho lễ kỹ niệm lớn; hoặc Giới đàn; hay bậc Ðại sư đăng đàn thuyết pháp, bởi vì trong bài kệ có câu “Thỉnh Phật thượng đường”. Ngày nay các chùa chiền còn dùng để đón rước chư Tăng, Ni. Dẫu cho là đón rước một vị Ðại sư hay Danh tăng đến viếng chùa, liệu có lạm dụng chăng?<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
III. Nguồn gốc và ý nghĩa của MÕ:<br />
<br />
Theo sách Tam Tài Đồ Hội của Vương Tích đời Minh có đoạn: “Mõ là loại mà dùng cây khắc thành hình con cá, rỗng bên trong, gõ nó sẽ phát ra tiếng, các hàng Phật Tử khi tán tụng đều dùng đến nó”.<br />
<br />
Sách Tham Thiền Ngũ Đài Sơn Ký (quyển 3), Tống Thần Tông, Hy Ninh năm thứ 5 ngày mồng 8 tháng 8 ghi: Trong chùa Thanh Thái có thờ tượng ngài Phó Đại Sỹ. Mỗi khi Ngài muốn gặp các vị tu hạnh đầu đà nơi cao sơn, chỉ gõ mõ, chư vị sau khi nghe tiếng mõ ấy liền đến. Sau đó, các tự viện lớn nhỏ dưới chân núi đều dùng mõ để tập họp đại chúng.<br />
<br />
Theo sách Thích Thị Yếu Lãm ghi rằng: Chuông, khánh, bản đá, bản gỗ, mõ đều có khả năng phát ra âm thanh một khi gõ vào và nhờ nghe đó mà đại chúng tập họp nên các loại đó đều gọi là Kiền Chuỳ.<br />
<br />
Sách Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, chương Pháp Khí cũng nói khi dùng cơm hoặc khi phổ thỉnh chúng Tăng đều gõ mõ. Từ đây chúng ta có thể hiểu lúc đầu mõ (loại mõ điếu – hình dài) dài được dùng để tập họp Tăng chúng.<br />
<br />
Lại có người cho rằng mõ là do Sa-môn Chí Lâm đời Đường tạo ra, nhưng điều này cũng không lấy gì làm chắc, vì không có sử liệu rõ ràng.<br />
<br />
Mõ có 2 loại:<br />
<br />
a)Mõ hình hình bầu dục (thường mô phỏng hình con cá có vảy cuộn tròn): Dùng khi tụng kinh. Được dùng tại Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và một số quốc gia khác. Loại mõ này được nói là xuất hiện vào triều đại nhà Minh, Trung Hoa (?). Tiếng mõ với mục đích chính là giữ trường canh cho đại chúng khi tụng kinh được nhịp nhàng; vừa giữ cho buổi lễ được trang nghiêm lại vừa giữ cho tâm hồn khỏi tán loạn trong khi hành lễ. Bởi vậy, người đánh mõ gọi là Duyệt Chúng, ý nghĩa muốn diễn đạt là làm đẹp lòng mọi người trong lúc cùng tụng kinh với nhau.<br />
<br />
b) Mõ hình điếu (thường mô phỏng hình con cá dài thẳng): Treo ở Trai đường, nhà trù… dùng để báo hiệu cho đại chúng khi thọ trai hay chấp tác. Loại mõ này chỉ dùng trong các chùa cổ Trung Hoa; các chùa chiền, tự viện Việt Nam không dùng (thường chỉ gõ khánh hay bản). Ngoài ra, cũng có một loại mõ rất nhỏ dùng để chư Tăng Ni niệm Phật khi đi kinh hành (nhiễu Phật).<br />
<br />
Nhưng vì sao cả 2 loại mõ đều khắc hình con cá? Sách Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy nói rằng vì loài cá suốt ngày đêm đều tỉnh, nên khắc hình con cá để mỗi khi gõ, chúng ta tự nhắc mình phải tỉnh thức, chớ có hôn trầm, giải đãi.<br />
<br />
Sách Chính Ngôn đời nhà Đường, Trung Hoa chép:<br />
<br />
“Có một người bạch y đến hỏi một vị Trưởng lão ở Thiên Trúc rằng:<br />
<br />
- Tại sao các Tăng xá đều có treo mõ?<br />
<br />
Vị trưởng lão trả lời:<br />
<br />
- Vì để cảnh tĩnh chúng Tăng tại Tăng xá hay tự viện ấy.<br />
<br />
Người bạch y hỏi tiếp:<br />
<br />
- Nhưng tại sao lại tạc hình con cá?<br />
<br />
Vị Trưởng lão không trả lời được. Người bạch y lại hỏi ngài Hộ Biện và được ngài giải thích rằng:<br />
<br />
- Loài cá là loài không bao giờ nhắm mắt và thích hoạt động. Cũng vì muốn cho người tu hành ngày đêm quên ngủ, gắng công tu tập, mau chứng đạo quả nên treo và đánh mõ và cái mõ được tạc hình con cá vậy.”<br />
<br />
Sách Tăng Tu Giáo Uyển Thanh Quy (quyển hạ, phần pháp khí) cũng có ghi lại truyền thuyết rằng có một vị Tăng do phản thầy, huỷ pháp mà bị đoạ làm thân cá, trên lưng con cá ấy lại mọc một cái cây, mỗi khi sóng to gió lớn, khiến thân ra máu, thật thống khổ vô cùng. Một lần nọ, vị Thầy Bổn Sư qua biển, nhân đó nó muốn đòi nợ liền nói rằng: Thầy không dạy bảo nó nên nó mới phải bị đoạ làm thân cá như thế này, do đó nay nó muốn báo oán. Thế rồi, vị Thầy ấy bảo cá nên ăn năn sám hối, Thầy ấy cũng vì con cá mà cầu siêu chú nguyện và ngay đêm ấy nó được hóa kiếp. Vị Thầy Bổn Sư liền đem cây ấy đẽo thành hình con cá và treo lên để cảnh tỉnh đại chúng. Có thể vì lý do này các mõ tròn sau này cũng hay khắc hình con cá trên mõ để cảnh tỉnh đại chúng.<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
<br />
<br />
IV. KHÁNH:<br />
<br />
Sách Tượng Khí Tiêu quyển thứ 18 chép: “Ngài Vân Chương nói: hình của bản giống như đám mây, nên người ta cũng thường gọi tên của bảng là Vân Bản.” Ngài Tục Sự Lão cũng có thuật: “Vua Tống Thái Tổ cho rằng, tiếng trống hay làm giật mình người ngủ, nên thay vì dùng Trống, vua Tống Thái Tổ chế dùng thiết khánh (khánh bảng thiết).” Loại khánh này cũng gọi là chinh, tức là vân bản vậy.<br />
<br />
Khánh tiếng Phạn là Kiền Chùy (trong luật Phật thường gọi là Kiền Chùy Thành), dịch là chuông hay khánh.<br />
<br />
Khánh cũng là một pháp khí như bảng. Cách dùng cũng tương tự nhau, chỉ có hình thức và nguyên liệu chế tác là khác nhau thôi. Hình dạng của bảng là hình bát giác và làm bằng gỗ, còn hình dạng của khánh thì làm theo hình bán nguyệt và đúc bằng đồng, hoặc có khi làm bằng đá cẩm thạch.<br />
<br />
Ngày nay trong các tự viện, khánh làm bằng đồng chừng bằng cái đĩa lớn, treo trong một cái giá gỗ, thường dùng để báo hiệu trong phạm vi nhỏ, chẳng hạn như để báo thọ trai hay khi thỉnh một vị Tăng, Ni từ trong liêu ra Pháp đường; hoặc đón rước một vị đại sư hay danh tăng đến tự viện, nghi lễ nầy đi trước là khay lễ gồm nhang, đèn, hoa, quả, kế theo là một vị cầm khánh treo trong giá, vừa đi vừa đánh khánh rồi tiếp theo là vị được đón rước theo sau - có thể có cả lọng – rồi mới tiếp đến những Tăng Ni khác tùy theo phẩm trật xếp thành thứ tự.<br />
<br />
Những vị Tăng Ni nhập đại định, muốn báo cho vị ấy xuất định, người ta cũng dùng tiếng khánh để cảnh tĩnh.<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
(Hình này chỉ là minh họa).<br />
V. BẢN:<br />
<br />
Bản là một tấm gỗ dày chừng 2 phân, dài chừng 4 hay 5 tấc, cao chừng 3 tấc, thường được treo trong tự viện, được gõ 3 lần trong ngày: bình minh, hoàng hôn và trước khi đi ngủ.<br />
<br />
Bản cũng được thay thế cho trống và dùng trong những trường hợp như báo tin giờ thọ trai, giờ tu học, nhóm họp Tăng-già để nghị bàn Phật sự hoặc phân xử các lỗi lầm v.v… của chúng Tăng trong Già Lam.<br />
<br />
Người ta thường thấy những câu sau đây khắc trên bản:<br />
<br />
Hãy nghe đây chư Tăng! Hãy tinh tiến trong việc tu tập! Thời gian bay qua nhanh như mũi tên; nó chẳng chờ ai đâu !<br />
<br />
oOo<br />
<br />
Vài ý niệm về sử dụng chuông, trống, khánh… tại Ấn Ðộ và các nước khác:<br />
Theo cuốn A Dictionary of Symbols (London, 1962, trang 23) cho rằng âm thanh của chuông là biểu tượng của năng lực sáng tạo. Chuông treo lơ lửng tượng trưng cho sự huyền bí của trời và đất. Hình dáng của chuông xuất phát lấy từ hình tượng vòm trời.<br />
<br />
Ấn Độ đã biết sử dụng chuông trên 2000 năm về trước và có lẽ chuông được sử dụng rộng rãi trong cung đình, đặc biệt trong các chùa chiền. Các hình thức nghệ thuật như điêu khắc chùm chuông xuất hiện vào thời kỳ đầu của Phật Giáo có thể được tìm thấy trên các bức phù điêu trên các trụ đá của vua Asoka (A-dục) và các tháp tôn trí xá lợi của đức Phật. Không phải tại Ấn Ðộ mà ngay cả các nước lân cận chịu ảnh hưởng lớn nền văn hóa tư tưởng Ấn Ðộ như Tích Lan, Miến Ðiện cũng sử dụng chuông, và sau này cả trống nữa, để biểu hiện lòng thành của người cầu nguyện, và đặc biệt dùng khi chấm dứt một khóa lễ.<br />
<br />
Trong các dịp tưởng niệm đức Phật, các chuông được sử dụng cùng với một số nhạc khí khác như trống, sáo để biểu hiện lòng tôn kính đức Phật. Tác phẩm Saddharmàlankàra, một tác phẩm văn học tôn giáo thời trung đại của người Tích Lan ghi rằng: Chuông được sử dụng đầu tiên ở Tích Lan vào những dịp đặc biệt như triệu tập Tăng chúng. Sau này dần dần nó trở thành một phần của nghi lễ cúng dường âm nhạc (‘sabda-pùjà) cho đức Phật.<br />
<br />
Tín đồ Phật Giáo Tây Tạng tin rằng khi họ niệm chú, nhờ sức quay chuông của họ mà các câu thần chú sẽ đi muôn nơi vạn hướng, làm vơi bớt nỗi đau khổ của cuộc đời. Cho nên Phật Giáo Tây Tạng chế nhiều cỡ chuông cầm tay cho tín đồ trì niệm và cả những chuông lăn lớn để tín đồ quay.<br />
<br />
Dĩ nhiên các loại chuông trống ở Ấn Độ thuở ban đầu không giống với các loại chuông trống ngày nay ở Trung Hoa hay Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Ở Trung Hoa trống chỉ được sử dụng để thúc quân ra trận. Chuông (một hình thức của chiêng) được sử dụng như dấu hiệu của rút quân. Trong các buổi lễ tế giao của Thiên tử không thấy đề cập đến sử dụng các loại nhạc khí nầy. Trống phần lớn cũng để triệu tập ba quân tướng sĩ hoặc kêu oan ở cửa quan. Loại trống này được sử dụng rộng rãi về sau trong giới quan lại để hành quyết tội nhân ở pháp trường.<br />
<br />
Sự mầu nhiệm của tiếng khánh:<br />
Theo như các Thiền sử ghi lại qua các hành trạng của một số vị Thiền Sư, thì tiếng khánh có tác dụng rất lớn đối với người tu thiền. Một khi Thiền giả đã vào các tầng thiền như “Diệt thọ tưởng định” thì dù có trời long đất lở thân tâm của vị ấy cũng bất động. Tuy nhiên, chỉ với một vài tiếng khánh nhỏ cũng đủ đánh thức các ngài dậy. Câu chuyện ngài Hư Vân là một điển hình, trong một cơn thiền định xuất thần kéo dài cả tuần, chư vị Hòa Thượng khác đã dùng khánh mà đánh thức ngài xuất định.<br />
<br />
Chuông trống Bát Nhã có công dụng gì trong chùa?<br />
Tại mỗi chùa khi cử hành lễ, trước giờ khởi sự và sau khi chấm dứt cuộc lễ đều có thỉnh chuông trống Bát Nhã.<br />
<br />
Chuông trống Bát Nhã dùng để thỉnh Phật Tổ và thỉnh chư Tăng cùng nhau hướng về Phật điện để chứng minh cho buổi lễ sắp diễn ra được thanh tịnh trang nghiêm.<br />
<br />
Âm vang của chuông trống Bát Nhã sẽ hòa nhập theo cùng với trí tuệ sáng suốt của chư Phật thành một thể tánh duy nhất.<br />
<br />
Thường thường chuông trống Bát Nhã được cử lên ba hồi lúc bắt đầu cuộc lễ, nhưng khi chấm dứt có thể chỉ thỉnh một hồi và cũng đọc bài kệ như trên.<br />
<br />
Ngoài việc đón rước và đưa tiển chư Phật; Hộ Pháp; chư Tăng… việc đánh chuông trống Bát Nhã còn tượng trưng cho ý nghĩa tinh thần rất lớn là nhân tiếng chuông trống để mọi người có mặt trong giờ sắp hành lễ đều chú tâm vào việc nhiếp tâm cầu nguyện.<br />
<br />
Thật vậy, khi nghe tiếng chuông trống Bát Nhã gióng lên ai nấy trong chánh điện đều đứng dậy chấp tay cầu nguyện, đồng thời tâm hồn người nghe cũng cảm thấy như lắng lặng thanh thoát. Về lịch sử, chuông trống Bát Nhã không rõ do ai bày ra, nhưng Phật Giáo các nước thuộc vùng Đông Nam Á châu đều xử dụng cùng một mục đích và với một ý nghĩa về tinh thần rất lớn lao vậy.<br />
<br />
Muốn cho cuộc lễ được trang nghiêm và thành kính, chuông trống Bát Nhã không thể thiếu được lúc bắt đầu và khi chấm dứt lễ.<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
Biên soạn từ :<br />
<br />
- Ý nghĩa về chuông mõ trong đạo Phật - Tuệ Viên - Nguyệt San Phật Học số 76 tháng 11-2000.<br />
- Pháp khí và Pháp phục - Thích Tín Nghĩa - Nguyệt San Liên Hoa số 405 tháng 5-2004.<br />
- Lịch sử và ý nghĩa chuông trống Bát Nhã - Thích Giác Duyên - Nguyệt san Liên Hoa số 405 tháng 5-2004.<br />
- Các website Thư Viện Hoa Sen &amp; Đạo Phật Ngày Nay.<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
Nghi thức và cách thức sử dụng các loại Pháp khí trên sẽ được Thư Viện GĐPT Online đăng tải trong một đề tài khác.]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[Bài viết được sưu tập từ nhiều nguồn :<br />
<br />
<br />
<br />
Chuông, <a href="http://trongdoitam.vn" target="_blank">trống</a>, khánh, bản… là các loại pháp khí của Phật Giáo. Còn “chuông, trống Bát Nhã” là danh từ chung để chỉ cho đại hồng chung (chuông rất lớn) và trống lớn, thường được đặt hai bên trái phải của chánh điện, theo cách “tả chung, hữu cổ” nghĩa là bên trái đặt chuông, bên phải đặt trống. Nhiều chùa còn xây tháp an trí chuông và trống, nên nơi đặt chuông trống gọi là lầu chuông trống; lầu chuông  (chung lâu); lầu trống (cổ lâu)…<br />
<br />
I. Nguồn gốc và ý nghĩa của CHUÔNG:<br />
<br />
Nhiều nguồn tài liệu khác nhau đều cho rằng quá trình đưa chuông vào tự viện và được sử dụng rộng rãi trong các chùa chiền Trung Hoa vào thời kỳ nào không được xác định. Tuy nhiên, theo như sử liệu ghi lại, thì chuông đã được sử dụng vào thời nhà Chu (557 trước TL- 89 TL) ở Trung Hoa. Phật giáo Trung Hoa đã đưa chuông và trống vào các tự viện năm nào và do ai đề xướng, hiện nay chúng tôi chưa tìm ra tài liệu. Tài liệu về lịch sử của chuông và trống Bát Nhã quả thật là hiếm. Tuy nhiên, chúng tôi dựa vào một ít tài liệu sau để tạm truy nguyên nguồn gốc:<br />
<br />
Cuốn Quảng Hoằng Minh Tập (số 2103) trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh ghi rằng vào thời Lục Triều (420 – 479) đã có nhiều lầu chuông. Năm Thiên Hoà thứ 5 (566) đời Bắc Châu, bài Nhị Giáo Chung Minh được khắc trên ba đại hồng chung lớn nhất thời bấy giờ. 2 cái trong 3 cái này được đúc vào năm 570 và 665 TL.<br />
<br />
Tục Cao Tăng Truyện có ghi năm thứ 5 đời Tuỳ Đại Nghiệp (609), ngài Trí Hưng nhận lo việc chuông tại chùa Thiền Định ở kinh đô Trường An. Trong khoảng thời gian này và trở về sau, Bắc Châu không ngừng đúc hồng chung để an trí trong các tự viện.<br />
<br />
Lại nữa, theo truyền thuyết cho rằng hồng chung là do Hoà Thượng Chí Công khởi xướng và vua Lương Võ Đế (thế kỷ thứ VI) thực hiện để cầu nguyện cho các thần thức bị đọa trong chốn địa ngục gọi là chốn U Minh.<br />
<br />
Trong bộ kinh Kim Cang Chí cũng có chép: “Vua Hiếu Cao Hoàng đế đời nhà Đường nhơn vì nghe lời sàm tấu của Tống Tề Khưu mà giết lầm kẻ tôi trung tên là Hòa Châu, nên khi chết vua bị đọa vào địa ngục. Một hôm có một người bị bạo tử (chết thình lình) thần hồn đi lạc vào địa ngục ấy, thấy một tội nhân đang bị gông cùm, bị kềm kẹp đánh đập rất là khổ sở, hỏi ra thì mới biết là vua Hiếu Cao nhà Đường. Vua gọi vị bạo tử ấy vào mà nói rằng: Nhờ ngươi trở lại dương thế nói giúp với hậu chúa rằng: Hãy vì ta mà đúc chuông cúng dường và làm các việc từ thiện. Khi trở lại dương thế, người bạo tử liền đến yết kiến hậu chúa để chuyển lời nhắn nhủ của vua Hiếu Cao. Nghe vậy, hậu chúa liền thân hành đến chùa Thanh Lương phát nguyện đúc một quả chuông để cúng dường và cầu siêu cho Hiếu Cao hoàng đế”. (Tích nầy trong truyện Bách Trượng Thanh Quy, trang 68 và 87).<br />
<br />
Trong Ðường Thi có bài thơ của Trương Kế (thời Thịnh Ðường), tả một đêm nằm trong thuyền, nghe tiếng chuông chùa Hàn San vọng lại. Bài thơ là một tuyệt tác, có liên quan tới chuông, chùa và thời gian, đã gây nhiều tranh luận và có nhiều bản dịch, tưởng cũng nên chép ra đây:<br />
<br />
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên,<br />
Giang phong ngư hỏa đối sầu miên.<br />
Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn Tự,<br />
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.<br />
<br />
Tản Ðà dịch:<br />
Trăng tà tiếng quạ kêu sương,<br />
Lửa chài, cây bến sầu vương giấc hồ.<br />
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,<br />
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.<br />
<br />
Nguyễn Hàm Ninh dịch:<br />
Quạ kêu, trăng lặn, trời sương,<br />
Lửa chài le lói sầu vương giấc hồ.<br />
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,<br />
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.<br />
<br />
Hồ Ðiệp lại ngâm:<br />
Trăng tà chiếc quạ kêu sương,<br />
Lửa chài cây bến còn vương giấc hồ.<br />
Thuyền ai đậu bến Cô Tô,<br />
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.<br />
<br />
Ngô Tất Tố dịch:<br />
Quạ kêu, sương tỏa, trăng lui,<br />
Ðèn chài, cây bãi, đối người nằm khô.<br />
Chùa đâu trên núi Cô Tô,<br />
Tiếng chuông đưa đến bến đò canh khuya.<br />
<br />
Trần Trọng Kim dịch:<br />
Quạ kêu, trăng lặn, sương rơi,<br />
Lửa chài, cây bãi, đối người nằm co.<br />
Con thuyền đậu bến Cô Tô,<br />
Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn.<br />
<br />
Trần Trọng San dịch:<br />
Quạ kêu, trăng lẩn sương trời,<br />
Buồn hiu giấc ngủ lửa chài bến phong.<br />
Ðêm Cô Tô vẳng tiếng chuông,<br />
Chùa Hàn San đến thuyền sông Phong Kiều.<br />
<br />
Lý Nhược Tam dịch:<br />
Ô đề trăng lặng sương giăng,<br />
Ðèn câu thức bóng lăn tăn gợn sầu.<br />
Hàn Sơn Tự, đất Tô Châu,<br />
Chuông khuya vọng đến Phong Kiều thuyền neo.<br />
<br />
Hữu Nguyên dịch: Quạ kêu, trăng lặn, ngút trời sương,<br />
Phong bãi, đèn câu đắm mộng trường.<br />
Đêm vắng Cô Tô thuyền khách đậu,<br />
Chuông Hàn San Tự thoảng đưa sang.<br />
<br />
Huệ Thu dịch:<br />
Trăng chìm quạ khóc trời sương,<br />
Ðèn chong cây lặng nghe buồn miên man.<br />
Cô Tô phố ngoại chùa Hàn,<br />
Nửa đêm chuông đổ rớt sang thuyền chờ .<br />
<br />
Do chuông không bao giờ thỉnh vào nửa đêm hay giữa khuya, như vậy thì tác giả Trương Kế đã sai, nhưng người ta thường nghĩ thi sĩ thì phải có nhận xét, ghi chép đúng, vã lại chữ bán dạ mới hay, cho nên người sau đặt ra chuyện cho hợp lý với bài thơ:<br />
<br />
“Có nhà sư trụ trì chùa Hàn San, một đêm vào mồng 3 hay mồng 4 ngẫu hứng cảm tác thành thơ:<br />
<br />
Sơ tam sơ tứ nguyệt mông lung,<br />
Bán tự ngân câu bán tự cung.<br />
<br />
Rồi hết ý, loay hoay không tìm ra hai câu kết. Cũng đêm ấy có chú Tiểu ra ngoài, nhìn thấy trăng in bóng dưới vũng nước. Lúc trở vào thấy Thầy ngồi tư lự, mạn phép hỏi thầy về cớ sự, sau khi được Thầy cho biết, chú nhớ mảnh trăng mình vừa mới gặp, nửa in dưới nước nửa cài trên không, nên xin được dâng thầy hai câu kết:<br />
<br />
Thùy bả ngọc hoàn phân lưỡng đoạn,<br />
Bán trầm thủy để, bán phù không.<br />
<br />
Thầy cũng vừa ý với hai câu kết, cả hai thầy trò hoan hỷ nên lên chánh điện dâng hương tạ ân Phật, đồng thời thỉnh chuông, nên mới có tiếng chuông vào lúc nửa đêm, vang đến thuyền của thi sĩ Trương Kế.”<br />
<br />
Thi sĩ Cao Tiêu dịch bài thơ trên:<br />
<br />
Trăng non mùng bốn mùng ba,<br />
Nửa như móc bạc, nửa là cánh cung.<br />
Ai đem bẻ nửa chiếc vòng,<br />
Nước in một nửa, trên không nửa cài.<br />
<br />
Nhưng mà đâu phải thi sĩ hay thi hào, thi bá là có nhận xét đúng. Cũng trong thi văn Trung Hoa có giai thoại sau:<br />
<br />
Có lần Tô Ðông Pha đọc thơ Vương An Thạch – tự Giới Phủ – danh nho học rộng, tài cao, giữ chức Tể Tướng dưới triều Tống Thần Tông, một người đi trước và lại đang làm quan đầu triều, đọc thấy câu:<br />
<br />
Minh nguyệt sơn đầu khiếu,<br />
Hoàng khuyển ngọa hoa tâm.<br />
<br />
Tô Ðông Pha bèn chê là vô lý: trăng sáng sao lại hót được ở đầu núi, chó vàng sao nằm giữa lòng hoa cho được? Chê xong, sửa ra:<br />
<br />
Minh nguyệt sơn đầu chiếu,<br />
Hoàng khuyển ngọa hoa âm.<br />
<br />
Trăng soi đầu núi, chó nằm bóng hoa thì hợp lý, và bài thơ hay quá!<br />
<br />
Về sau Tô Ðông Pha gay gắt chống Tân pháp của Vương An Thạch nên bị đày xuống miền cực Nam. Ðến đất ấy, Tô Ðông Pha mới biết có một loại chim gọi là “Minh nguyệt” và một loại sâu là “Hoàng khuyển”!<br />
<br />
Các loại chuông thường được sử dụng trong các chùa chiền, tự viện:<br />
<br />
a) Phạn chung (chuông Phạn): Cũng gọi là “đại chung”, “hồng chung”, “hoa chung” hoặc “cự chung”. Chuông này được đúc bằng đồng xanh pha ít sắt. Thông thường chuông cao khoảng 1,5m, đường kính khoảng 6 tấc. Loại này treo trong lầu chuông, mục đích thỉnh chuông là để chiêu tập đại chúng hoặc báo thời sớm tối. Người Việt mình thường dùng từ “đại hồng chung” chỉ cho loại chuông thật to, gần như không còn có quy định cụ thể là rộng hẹp bao nhiêu nữa. Chuông này còn gọi là chuông U Minh.<br />
<br />
b) Bán chung (chuông bán): Vì chiều kích chỉ lớn bằng 1/2 chuông phạn, nên gọi là bán chung, còn được gọi là “hoán chung” hoặc “tiểu chung.” Chuông này thường được đúc bằng đồng, cao khoảng 6 đến 8 tấc, thường để tại 1 góc trong chánh điện và được sử dụng trong các buổi pháp hội, nên còn có tên khác là “hành lễ chung”. Người Việt Nam cũng như các nước khác ngày nay cũng linh động chế tạo nhiều loại chuông dạng “bán chung” này, nhưng cũng không có kích thước cố định.<br />
<br />
c) Bảo Chúng chung (chuông báo chúng): Cũng gọi là chuông Tăng đường, tức là chuông nhỏ, chỉ một người xách lên được. Hình dạng cũng như đại hồng chung, được treo ở trai đường, dùng để báo tin cho Tăng chúng biết vào những lúc: Họp đại chúng, thọ trai, giờ chấp tác, giờ bái sám trong các tự viện.<br />
<br />
d) Gia Trì chung (chuông gia trì): Loại chuông nầy dùng để đánh lên trong lúc tụng kinh, bái sám. Tiếng chuông được sử dụng trước khi tụng kinh hay báo hiệu sắp hết đoạn kinh đang tụng hoặc câu niệm Phật. Cũng thường được đánh lên khi lạy Phật một mình. Còn khi đông người thì để báo hiệu cùng lạy cho nhịp nhàng. Chuông gia trì có đủ ba loại lớn, vừa và nhỏ. Chuông vừa và nhỏ thì thường thường Phật tử tại gia dùng nhiều hơn và cũng dùng như chư Tăng.<br />
<br />
Trong thời cực thịnh của Thiền Tông, chuông an trí tại thiền đường, trai đường gọi là “Tăng Đường chung”, “Trai chung”; chuông để tại chánh điện gọi là “Điện chung”… Những vị lo việc chuông này gọi là “Chung Đầu.”<br />
<br />
Về việc thỉnh (đánh) chuông, xưa ở Trung Hoa tuỳ mỗi Tông phái, từng địa phương mà quy định có khác nhau, nhưng tổng quát là khi bắt đầu thỉnh 3 tiếng và khi kết thúc đánh nhanh 2 tiếng hoặc 3 hồi chín tiếng cho các loại chuông nhỏ khi tụng kinh. Số lượng tiếng thường là 18, cũng có khi thỉnh 36 tiếng, 108 tiếng. Thỉnh 108 tiếng biểu thị hành giả nỗ lực làm vơi cạn đi 108 loại phiền não nơi nội tâm. Mười tám tiếng là biểu thị sự thanh lọc 6 căn, 6 trần và 6 thức.<br />
<br />
Theo niềm tin cho rằng tiếng vang của chuông có thể thấu đến cõi địa ngục u ám, chúng sanh nào bị đọa nơi địa ngục nhờ nghe tiếng chuông này liền được giải thoát. Lại nữa, tiếng chuông thanh thoát của chùa có thể giúp cho loài quỷ đói được nhẹ bớt lòng tham lam, sân hận mà giải thoát khỏi kiếp ngạ quỷ. Ở các ngôi chùa Việt Nam hiện nay cũng như các chùa Trung Quốc thời xưa hoặc các chùa thuộc các nước theo Phật giáo Đại Thừa như Nhật Bản, Triều Tiên… thường có quả chuông lớn để thỉnh vào hai buổi sáng tối trong ngày khi cầu nguyện. Giờ thỉnh chuông buổi sáng lúc 4 giờ hoặc trước thời công phu buổi sang, tuỳ theo quy định của mỗi chùa.<br />
<br />
Kệ thỉnh chuông:<br />
Người thỉnh chuông vừa đánh chuông vừa đọc bài kệ:<br />
<br />
Nguyện thử chung thinh siêu pháp giới,<br />
Thiết vi u ám tất giai văn.<br />
Văn trần thanh tịnh chứng viên thông,<br />
Nhứt thiết chúng sanh thành chánh giác.<br />
<br />
Nghĩa là:<br />
<br />
Nguyện tiếng chuông này khắp pháp giới,<br />
Thiết vi u ám cùng nghe được,<br />
Căn cảnh thanh tịnh chứng viên thông,<br />
Hết thảy chúng sanh thành chánh giác.<br />
(Bản dịch của Hòa Thượng Trí Quang – Luật Sa-di, Sa-di-ni – Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, 1989).<br />
<br />
Dịch thơ:<br />
<br />
1. Nguyện tiếng chuông vang rền pháp giới,<br />
Chúng sanh ngục sắt thảy đều nghe.<br />
Tiếng đời sạch, chứng được viên thông,<br />
Tất cả muôn loài đều giác ngộ.<br />
(Thích Nhật Từ ).<br />
<br />
2. Tiếng chuông nguyện vang rền các cõi,<br />
Núi Thiết Vi tăm tối nghe hay.<br />
Âm thanh đời lắng sạch thay,<br />
Chúng sanh giác ngộ, tỏ bày an nhiên.<br />
(Thích Nhật Từ).<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
<br />
II. Nguồn gốc và ý nghĩa của<a href="http://trongdoitam.net" target="_blank"> TRỐNG</a>:<br />
<img src="http://trongdoitam.vn/uploads/2012/09/trong-chua.jpg" border="0" alt="[Hình: trong-chua.jpg]" /><br />
<br />
Trống là một trong những loại nhạc khí, thường làm bằng đá, cây, đồng v.v… Xưa tại Ấn Ðộ dùng để báo thời gian, cảnh báo. Khi Ðức Phật còn tại thế, dùng nó để tập họp chúng Tăng bố tát, nghe pháp…<br />
<br />
Ngũ Phần Luật có ghi: “Chư Tỳ-kheo bố – tát, chúng bất thời tập. Phật ngôn: nhược đả kiền chuỳ, nhược đả cổ…”.  Trong kinh Lăng Nghiêm chép: Đức Phật dạy: “Này A Nan! Ông hãy nghe tiếng trống mỗi khi dọn cơm xong, nghe tiếng chuông mỗi khi nhóm họp đại chúng trong Tịnh xá Kỳ Ðà Hoàn nầy. Tiếng trống hoặc tiếng chuông ấy trước sau nối tiếp nhau. Vậy, theo ý ông, mỗi khi ông nghe được các thứ tiếng ấy là vì nó tự bay đến bên tai ông, hay tai ông đến nơi chỗ phát tiếng ấy?”. (Đây là lúc đức Phật chỉ cái Tâm cho ngài A Nan)<br />
<br />
Trung Hoa thời xưa dùng nó trong các dịp lễ lộc, vũ hội… Có loại lớn, loại nhỏ, loại treo hoặc để trên giá… Trống lớn gọi là trống tẩu, nhỏ gọi là trống ứng, treo để đánh gọi là trống treo…<br />
<br />
Từ đời Ðường về sau, theo thanh quy của thiền môn, trống là một trong những loại pháp khí dùng làm hiệu lệnh báo thời sớm tối. Sau này Phật Giáo Trung Hoa tiến thêm bước nữa là phối hợp nhịp điệu, âm thanh của tiếng Trống hòa cùng những lời tán tụng, phổ thành nhạc điệu, gọi là “kỹ nhạc cúng dường; trang nghiêm đạo tràng”, dùng âm thanh làm Phật sự, trợ giúp đại chúng phát tâm thành kính với Tam Bảo.<br />
<br />
Ai đã đưa Trống vào tự viện? Năm nào? Chúng tôi chưa tìm ra tài liệu để đưa ra một giả thuyết khả dĩ. Tuy nhiên, dựa vào bản dịch bài Thiền Sư Đại Điên và Hàn Dũ thời Đường Hiến Tông năm 820, chúng ta thấy chuông và trống đã được sử dụng rộng rãi trong các nghi lễ Phật giáo. Do đó, ít nhất chúng ta đoán được là trước năm 820, trống đã được đưa vào chùa để làm pháp khí.<br />
<br />
Ngày nay, có một vài nghi thức tán tụng ở miền Trung và miền Nam Việt Nam sử dụng Trống nhỏ để hỗ trợ cho chư Tăng Ni khi tán tụng. Các loại nghi thức tán tụng này có lẽ cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, vì các thời tụng niệm của Phật giáo Trung Hoa đều có tán, và loại trống nhỏ này cũng được xem như một loại pháp khí.<br />
<br />
Trống sử dụng trong chùa chiền, tự viện có hai loại:<br />
<br />
a. Trống lớn (dân gian quen gọi là đại cổ; tiếng bình dân Việt Nam còn gọi là trống đại): Đánh vào những buổi lễ Phật và các dịp lễ lớn gọi là trống Bát Nhã.<br />
<br />
b. Trống nhỏ (dân gian quen gọi là tiểu cổ; tiếng bình dân Việt Nam còn gọi là trống cơm): Dùng để đánh mỗi khi tụng kinh nên cũng được gọi là trống kinh. Ngoài việc dùng đánh khi tụng kinh hằng ngày vào hai thời công phu khuya và chiều trong các tự viện, còn có rất nhiều thể điệu khác nhau khi dùng trong tang lễ, chẩn tế cô hồn v.v…<br />
<br />
Chuông trống Bát Nhã:<br />
Tiếng chuông trống Bát Nhã đánh lên để cung thỉnh Phật đăng bảo tọa. Sở dĩ gọi là Bát-nhã (phiên âm của từ ngữ “prajnaa” của chữ Sanskrit có nghĩa là “trí tuệ”) vì công năng của chúng là để thức tỉnh lòng người, có khả năng đánh động tâm linh của người nghe. ( <a href="http://trongthanglong.net" target="_blank">Trống thăng long </a>")<br />
<br />
Thật ra nhóm từ ngữ “chuông trống Bát Nhã” là để chỉ nghi thức đánh chuông và trống theo bài kệ “Bát Nhã Hội”. Đây là một nghi thức hành lễ Phật Giáo Trung Hoa truyền sang Việt Nam, có lẽ xuất phát từ Không Tông, do nghi thức rất trang trọng nên dần dần chùa chiền các Tông phái khác áp dụng theo.<br />
<br />
Có nhiều cách đánh chuông trống Bát Nhã nhưng hầu hết chùa chiền Việt Nam áp dụng cách thỉnh chuông trống Bát Nhã theo bài kệ Bát Nhã Hội nói trên như sau:<br />
<br />
Bát nhã hội,<br />
Thỉnh Phật thượng đường.<br />
Đại chúng đồng văn,<br />
Bát nhã âm.<br />
Phổ nguyện pháp giới,<br />
Đẳng hữu tình,<br />
Nhập Bát nhã,<br />
Ba la mật môn.<br />
<br />
Nghĩa là:<br />
<br />
Hội Bát nhã,<br />
Thỉnh Phật lên tòa,<br />
Đại chúng đều nghe:<br />
Âm Bát nhã.<br />
Nguyện khắp pháp giới,<br />
Chúng hữu tình,<br />
Nhập Bát nhã,<br />
Chứng Ba la mật.<br />
<br />
Có lẽ khởi đầu chuông trống Bát Nhã chỉ chính thức cử lên trong những nghi lễ lớn của Phật Giáo, hoặc để thỉnh Phật chứng minh cho lễ kỹ niệm lớn; hoặc Giới đàn; hay bậc Ðại sư đăng đàn thuyết pháp, bởi vì trong bài kệ có câu “Thỉnh Phật thượng đường”. Ngày nay các chùa chiền còn dùng để đón rước chư Tăng, Ni. Dẫu cho là đón rước một vị Ðại sư hay Danh tăng đến viếng chùa, liệu có lạm dụng chăng?<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
III. Nguồn gốc và ý nghĩa của MÕ:<br />
<br />
Theo sách Tam Tài Đồ Hội của Vương Tích đời Minh có đoạn: “Mõ là loại mà dùng cây khắc thành hình con cá, rỗng bên trong, gõ nó sẽ phát ra tiếng, các hàng Phật Tử khi tán tụng đều dùng đến nó”.<br />
<br />
Sách Tham Thiền Ngũ Đài Sơn Ký (quyển 3), Tống Thần Tông, Hy Ninh năm thứ 5 ngày mồng 8 tháng 8 ghi: Trong chùa Thanh Thái có thờ tượng ngài Phó Đại Sỹ. Mỗi khi Ngài muốn gặp các vị tu hạnh đầu đà nơi cao sơn, chỉ gõ mõ, chư vị sau khi nghe tiếng mõ ấy liền đến. Sau đó, các tự viện lớn nhỏ dưới chân núi đều dùng mõ để tập họp đại chúng.<br />
<br />
Theo sách Thích Thị Yếu Lãm ghi rằng: Chuông, khánh, bản đá, bản gỗ, mõ đều có khả năng phát ra âm thanh một khi gõ vào và nhờ nghe đó mà đại chúng tập họp nên các loại đó đều gọi là Kiền Chuỳ.<br />
<br />
Sách Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy, chương Pháp Khí cũng nói khi dùng cơm hoặc khi phổ thỉnh chúng Tăng đều gõ mõ. Từ đây chúng ta có thể hiểu lúc đầu mõ (loại mõ điếu – hình dài) dài được dùng để tập họp Tăng chúng.<br />
<br />
Lại có người cho rằng mõ là do Sa-môn Chí Lâm đời Đường tạo ra, nhưng điều này cũng không lấy gì làm chắc, vì không có sử liệu rõ ràng.<br />
<br />
Mõ có 2 loại:<br />
<br />
a)Mõ hình hình bầu dục (thường mô phỏng hình con cá có vảy cuộn tròn): Dùng khi tụng kinh. Được dùng tại Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và một số quốc gia khác. Loại mõ này được nói là xuất hiện vào triều đại nhà Minh, Trung Hoa (?). Tiếng mõ với mục đích chính là giữ trường canh cho đại chúng khi tụng kinh được nhịp nhàng; vừa giữ cho buổi lễ được trang nghiêm lại vừa giữ cho tâm hồn khỏi tán loạn trong khi hành lễ. Bởi vậy, người đánh mõ gọi là Duyệt Chúng, ý nghĩa muốn diễn đạt là làm đẹp lòng mọi người trong lúc cùng tụng kinh với nhau.<br />
<br />
b) Mõ hình điếu (thường mô phỏng hình con cá dài thẳng): Treo ở Trai đường, nhà trù… dùng để báo hiệu cho đại chúng khi thọ trai hay chấp tác. Loại mõ này chỉ dùng trong các chùa cổ Trung Hoa; các chùa chiền, tự viện Việt Nam không dùng (thường chỉ gõ khánh hay bản). Ngoài ra, cũng có một loại mõ rất nhỏ dùng để chư Tăng Ni niệm Phật khi đi kinh hành (nhiễu Phật).<br />
<br />
Nhưng vì sao cả 2 loại mõ đều khắc hình con cá? Sách Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy nói rằng vì loài cá suốt ngày đêm đều tỉnh, nên khắc hình con cá để mỗi khi gõ, chúng ta tự nhắc mình phải tỉnh thức, chớ có hôn trầm, giải đãi.<br />
<br />
Sách Chính Ngôn đời nhà Đường, Trung Hoa chép:<br />
<br />
“Có một người bạch y đến hỏi một vị Trưởng lão ở Thiên Trúc rằng:<br />
<br />
- Tại sao các Tăng xá đều có treo mõ?<br />
<br />
Vị trưởng lão trả lời:<br />
<br />
- Vì để cảnh tĩnh chúng Tăng tại Tăng xá hay tự viện ấy.<br />
<br />
Người bạch y hỏi tiếp:<br />
<br />
- Nhưng tại sao lại tạc hình con cá?<br />
<br />
Vị Trưởng lão không trả lời được. Người bạch y lại hỏi ngài Hộ Biện và được ngài giải thích rằng:<br />
<br />
- Loài cá là loài không bao giờ nhắm mắt và thích hoạt động. Cũng vì muốn cho người tu hành ngày đêm quên ngủ, gắng công tu tập, mau chứng đạo quả nên treo và đánh mõ và cái mõ được tạc hình con cá vậy.”<br />
<br />
Sách Tăng Tu Giáo Uyển Thanh Quy (quyển hạ, phần pháp khí) cũng có ghi lại truyền thuyết rằng có một vị Tăng do phản thầy, huỷ pháp mà bị đoạ làm thân cá, trên lưng con cá ấy lại mọc một cái cây, mỗi khi sóng to gió lớn, khiến thân ra máu, thật thống khổ vô cùng. Một lần nọ, vị Thầy Bổn Sư qua biển, nhân đó nó muốn đòi nợ liền nói rằng: Thầy không dạy bảo nó nên nó mới phải bị đoạ làm thân cá như thế này, do đó nay nó muốn báo oán. Thế rồi, vị Thầy ấy bảo cá nên ăn năn sám hối, Thầy ấy cũng vì con cá mà cầu siêu chú nguyện và ngay đêm ấy nó được hóa kiếp. Vị Thầy Bổn Sư liền đem cây ấy đẽo thành hình con cá và treo lên để cảnh tỉnh đại chúng. Có thể vì lý do này các mõ tròn sau này cũng hay khắc hình con cá trên mõ để cảnh tỉnh đại chúng.<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
<br />
<br />
IV. KHÁNH:<br />
<br />
Sách Tượng Khí Tiêu quyển thứ 18 chép: “Ngài Vân Chương nói: hình của bản giống như đám mây, nên người ta cũng thường gọi tên của bảng là Vân Bản.” Ngài Tục Sự Lão cũng có thuật: “Vua Tống Thái Tổ cho rằng, tiếng trống hay làm giật mình người ngủ, nên thay vì dùng Trống, vua Tống Thái Tổ chế dùng thiết khánh (khánh bảng thiết).” Loại khánh này cũng gọi là chinh, tức là vân bản vậy.<br />
<br />
Khánh tiếng Phạn là Kiền Chùy (trong luật Phật thường gọi là Kiền Chùy Thành), dịch là chuông hay khánh.<br />
<br />
Khánh cũng là một pháp khí như bảng. Cách dùng cũng tương tự nhau, chỉ có hình thức và nguyên liệu chế tác là khác nhau thôi. Hình dạng của bảng là hình bát giác và làm bằng gỗ, còn hình dạng của khánh thì làm theo hình bán nguyệt và đúc bằng đồng, hoặc có khi làm bằng đá cẩm thạch.<br />
<br />
Ngày nay trong các tự viện, khánh làm bằng đồng chừng bằng cái đĩa lớn, treo trong một cái giá gỗ, thường dùng để báo hiệu trong phạm vi nhỏ, chẳng hạn như để báo thọ trai hay khi thỉnh một vị Tăng, Ni từ trong liêu ra Pháp đường; hoặc đón rước một vị đại sư hay danh tăng đến tự viện, nghi lễ nầy đi trước là khay lễ gồm nhang, đèn, hoa, quả, kế theo là một vị cầm khánh treo trong giá, vừa đi vừa đánh khánh rồi tiếp theo là vị được đón rước theo sau - có thể có cả lọng – rồi mới tiếp đến những Tăng Ni khác tùy theo phẩm trật xếp thành thứ tự.<br />
<br />
Những vị Tăng Ni nhập đại định, muốn báo cho vị ấy xuất định, người ta cũng dùng tiếng khánh để cảnh tĩnh.<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
(Hình này chỉ là minh họa).<br />
V. BẢN:<br />
<br />
Bản là một tấm gỗ dày chừng 2 phân, dài chừng 4 hay 5 tấc, cao chừng 3 tấc, thường được treo trong tự viện, được gõ 3 lần trong ngày: bình minh, hoàng hôn và trước khi đi ngủ.<br />
<br />
Bản cũng được thay thế cho trống và dùng trong những trường hợp như báo tin giờ thọ trai, giờ tu học, nhóm họp Tăng-già để nghị bàn Phật sự hoặc phân xử các lỗi lầm v.v… của chúng Tăng trong Già Lam.<br />
<br />
Người ta thường thấy những câu sau đây khắc trên bản:<br />
<br />
Hãy nghe đây chư Tăng! Hãy tinh tiến trong việc tu tập! Thời gian bay qua nhanh như mũi tên; nó chẳng chờ ai đâu !<br />
<br />
oOo<br />
<br />
Vài ý niệm về sử dụng chuông, trống, khánh… tại Ấn Ðộ và các nước khác:<br />
Theo cuốn A Dictionary of Symbols (London, 1962, trang 23) cho rằng âm thanh của chuông là biểu tượng của năng lực sáng tạo. Chuông treo lơ lửng tượng trưng cho sự huyền bí của trời và đất. Hình dáng của chuông xuất phát lấy từ hình tượng vòm trời.<br />
<br />
Ấn Độ đã biết sử dụng chuông trên 2000 năm về trước và có lẽ chuông được sử dụng rộng rãi trong cung đình, đặc biệt trong các chùa chiền. Các hình thức nghệ thuật như điêu khắc chùm chuông xuất hiện vào thời kỳ đầu của Phật Giáo có thể được tìm thấy trên các bức phù điêu trên các trụ đá của vua Asoka (A-dục) và các tháp tôn trí xá lợi của đức Phật. Không phải tại Ấn Ðộ mà ngay cả các nước lân cận chịu ảnh hưởng lớn nền văn hóa tư tưởng Ấn Ðộ như Tích Lan, Miến Ðiện cũng sử dụng chuông, và sau này cả trống nữa, để biểu hiện lòng thành của người cầu nguyện, và đặc biệt dùng khi chấm dứt một khóa lễ.<br />
<br />
Trong các dịp tưởng niệm đức Phật, các chuông được sử dụng cùng với một số nhạc khí khác như trống, sáo để biểu hiện lòng tôn kính đức Phật. Tác phẩm Saddharmàlankàra, một tác phẩm văn học tôn giáo thời trung đại của người Tích Lan ghi rằng: Chuông được sử dụng đầu tiên ở Tích Lan vào những dịp đặc biệt như triệu tập Tăng chúng. Sau này dần dần nó trở thành một phần của nghi lễ cúng dường âm nhạc (‘sabda-pùjà) cho đức Phật.<br />
<br />
Tín đồ Phật Giáo Tây Tạng tin rằng khi họ niệm chú, nhờ sức quay chuông của họ mà các câu thần chú sẽ đi muôn nơi vạn hướng, làm vơi bớt nỗi đau khổ của cuộc đời. Cho nên Phật Giáo Tây Tạng chế nhiều cỡ chuông cầm tay cho tín đồ trì niệm và cả những chuông lăn lớn để tín đồ quay.<br />
<br />
Dĩ nhiên các loại chuông trống ở Ấn Độ thuở ban đầu không giống với các loại chuông trống ngày nay ở Trung Hoa hay Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên. Ở Trung Hoa trống chỉ được sử dụng để thúc quân ra trận. Chuông (một hình thức của chiêng) được sử dụng như dấu hiệu của rút quân. Trong các buổi lễ tế giao của Thiên tử không thấy đề cập đến sử dụng các loại nhạc khí nầy. Trống phần lớn cũng để triệu tập ba quân tướng sĩ hoặc kêu oan ở cửa quan. Loại trống này được sử dụng rộng rãi về sau trong giới quan lại để hành quyết tội nhân ở pháp trường.<br />
<br />
Sự mầu nhiệm của tiếng khánh:<br />
Theo như các Thiền sử ghi lại qua các hành trạng của một số vị Thiền Sư, thì tiếng khánh có tác dụng rất lớn đối với người tu thiền. Một khi Thiền giả đã vào các tầng thiền như “Diệt thọ tưởng định” thì dù có trời long đất lở thân tâm của vị ấy cũng bất động. Tuy nhiên, chỉ với một vài tiếng khánh nhỏ cũng đủ đánh thức các ngài dậy. Câu chuyện ngài Hư Vân là một điển hình, trong một cơn thiền định xuất thần kéo dài cả tuần, chư vị Hòa Thượng khác đã dùng khánh mà đánh thức ngài xuất định.<br />
<br />
Chuông trống Bát Nhã có công dụng gì trong chùa?<br />
Tại mỗi chùa khi cử hành lễ, trước giờ khởi sự và sau khi chấm dứt cuộc lễ đều có thỉnh chuông trống Bát Nhã.<br />
<br />
Chuông trống Bát Nhã dùng để thỉnh Phật Tổ và thỉnh chư Tăng cùng nhau hướng về Phật điện để chứng minh cho buổi lễ sắp diễn ra được thanh tịnh trang nghiêm.<br />
<br />
Âm vang của chuông trống Bát Nhã sẽ hòa nhập theo cùng với trí tuệ sáng suốt của chư Phật thành một thể tánh duy nhất.<br />
<br />
Thường thường chuông trống Bát Nhã được cử lên ba hồi lúc bắt đầu cuộc lễ, nhưng khi chấm dứt có thể chỉ thỉnh một hồi và cũng đọc bài kệ như trên.<br />
<br />
Ngoài việc đón rước và đưa tiển chư Phật; Hộ Pháp; chư Tăng… việc đánh chuông trống Bát Nhã còn tượng trưng cho ý nghĩa tinh thần rất lớn là nhân tiếng chuông trống để mọi người có mặt trong giờ sắp hành lễ đều chú tâm vào việc nhiếp tâm cầu nguyện.<br />
<br />
Thật vậy, khi nghe tiếng chuông trống Bát Nhã gióng lên ai nấy trong chánh điện đều đứng dậy chấp tay cầu nguyện, đồng thời tâm hồn người nghe cũng cảm thấy như lắng lặng thanh thoát. Về lịch sử, chuông trống Bát Nhã không rõ do ai bày ra, nhưng Phật Giáo các nước thuộc vùng Đông Nam Á châu đều xử dụng cùng một mục đích và với một ý nghĩa về tinh thần rất lớn lao vậy.<br />
<br />
Muốn cho cuộc lễ được trang nghiêm và thành kính, chuông trống Bát Nhã không thể thiếu được lúc bắt đầu và khi chấm dứt lễ.<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
Biên soạn từ :<br />
<br />
- Ý nghĩa về chuông mõ trong đạo Phật - Tuệ Viên - Nguyệt San Phật Học số 76 tháng 11-2000.<br />
- Pháp khí và Pháp phục - Thích Tín Nghĩa - Nguyệt San Liên Hoa số 405 tháng 5-2004.<br />
- Lịch sử và ý nghĩa chuông trống Bát Nhã - Thích Giác Duyên - Nguyệt san Liên Hoa số 405 tháng 5-2004.<br />
- Các website Thư Viện Hoa Sen &amp; Đạo Phật Ngày Nay.<br />
<br />
- oOo -<br />
<br />
Nghi thức và cách thức sử dụng các loại Pháp khí trên sẽ được Thư Viện GĐPT Online đăng tải trong một đề tài khác.]]></content:encoded>
		</item>
	</channel>
</rss>